Trong bài nói chuyện TED về sự méo mó của tin tức toàn cầu, Alisa Miller cho biết, tin tức quốc tế chỉ chiếm 10,5% thời lượng phát sóng tại Mỹ; và nếu trừ đi các điểm nóng chiến sự như Iraq, thế giới chỉ còn lại 1% trên bản đồ truyền thông. Lý do đơn giản là các tòa soạn không đủ tiền để trả cho phóng viên đến đưa tin trên thực địa.
Giả sử như lời hứa hẹn của giới công nghệ rằng AI sẽ làm cho chi phí sản xuất và phân phối thông tin rẻ đi là đúng, bài toán trên sẽ được giải quyết. Như thể bước ra từ tiểu thuyết, bằng tiến bộ kỹ thuật, sẽ có "drone phóng viên" bay đến hiện trường, quay video gửi về trung tâm tin tức, trung tâm sẽ phân tích dữ liệu hình ảnh rồi tự động gửi mail đến các bên liên quan để phỏng vấn rồi tự động đối chiếu thực kiện (fact) giữa câu trả lời với ngân hàng dữ liệu.
Toàn bộ khối dữ liệu đó có thể được tự động viết thành hàng chục bài báo với các thể loại đa dạng - từ tin ngắn đến bình luận chuyên sâu, rồi phân phối các phiên bản khác nhau đến từng người dùng dựa trên lịch sử đọc bài và hồ sơ cá nhân của họ.
Quy trình trên sẽ đảm bảo đưa tin nóng hổi về mọi thứ: thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh,... từ mọi ngóc ngách của thế giới, cập nhật theo đơn vị từng phút theo đúng gu đọc của từng cá nhân. Sự khác biệt giữa các tòa soạn có chăng chỉ là nguồn lực dành cho drone, AI, cơ sở dữ liệu lớn cũng như khâu biên tập hậu kỳ được thực hiện bởi một vài biên tập viên kỳ cựu.
Kịch bản giả định trên đặt ra câu hỏi về bản chất của báo chí: liệu báo chí có đơn giản là thu thập, sắp xếp, và phân phối và kiểm định thông tin? Nếu nó đơn giản như vậy thì tương lai báo chí liệu có thể đặt phần nhiều lên đôi vai AI, còn phóng viên sau khi được giải phóng sức lao động, sẽ tập trung cho các bài phân tích sâu sắc hơn?
Máu lạnh và định nghĩa về báo chí đỉnh cao
Truman Capote đã dành bốn năm tìm hiểu tư liệu để viết Máu lạnh, với sự hỗ trợ của nhà văn Harper Lee. Trong ảnh: Truman Capote in 1959. Nguồn: Wikipedia
Câu hỏi trên làm tôi nhớ đến một câu chuyện báo chí kinh điển. Kiệt tác nằm giữa lằn ranh của tiểu thuyết và báo chí Máu lạnh được tác giả Truman Capote khởi động khi ông đọc một tin ngắn đầy đủ dữ kiện nhưng khô khốc trên The New York Times về vụ thảm sát gia đình Clutter xảy ra năm 1959.
Bằng việc đảo ngược dòng thời gian để tái dựng bối cảnh trước đêm thảm kịch, Capote đã thiết lập một lối dẫn dắt đầy linh hoạt: độc giả dù biết trước hung thủ ngay từ trang đầu nhưng vẫn bị cuốn theo mạch truyện cho đến những dòng cuối cùng. Ông cung cấp một hệ thống dữ kiện dày đặc để bóc tách thế giới của những kẻ thủ ác. Qua lăng kính của Capote, bản chất không thể dung thứ của vụ án mạng được khẳng định rõ ràng, nhưng đồng thời, những góc khuất về gia cảnh và bước trượt tâm lý dẫn lối hai tên tử tù đến con đường máu cũng được phơi bày trọn vẹn.
Sức hấp dẫn tuyệt đối của Máu lạnh nằm ở nguyên tắc phi hư cấu nghiêm ngặt: Capote không thêm bớt hay lãng mạn hóa bất kỳ chi tiết nào. Ông dấn thân vào vụ án với tư cách một nhà văn, nhà báo cũng như với kỹ năng của một điều tra viên xuất sắc. Toàn bộ tác phẩm được xây dựng vững chắc trên nền tảng các biên bản hành chính của cơ quan lập pháp, kết hợp cùng kết quả từ hàng trăm cuộc phỏng vấn trực tiếp do chính ông thực hiện với nhân chứng, gia đình nạn nhân, cộng đồng xung quanh và hai kẻ sát nhân trong phòng giam. Khối công việc trên được ông cùng nhà văn Harper Lee thực hiện trong suốt bốn năm tại nhiều vùng quê hẻo lánh Kansas để công chúng phiêu lưu cùng ngòi bút đến tận cùng của một nước Mỹ khác.
Ngày nay, Máu lạnh, mà chính Capote gọi là "cuốn tiểu thuyết phi hư cấu", vẫn được nhắc đến như một mốc cho thấy việc kể lại sự thật bằng phương pháp báo chí có thể tạo ra những tác phẩm có ảnh hưởng văn hóa tương đương tác phẩm văn học lớn.
AI và cú lừa nhận thức
Nếu như AI tự động sản sinh ra hàng trăm tin ngắn như cái tin đầu tiên Capote đọc, thì tòa soạn sẽ có nguồn lực để phóng viên đào sâu hơn câu chuyện như Capote đã từng và chúng ta sẽ có một nền báo chí "chậm" như vẫn khao khát.
Lập luận trên hẳn có điểm phải xét lại.
Truman Capote lên đường đến hạt Finney, Kansas vào năm 1959 chính vì mẩu tin trên tờ The New York Times quá ngắn ngủi và khô khốc. Bản chất rỗng dữ kiện của nó đã kích thích bản năng và trí tò mò của một người viết để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Điều gì đã xảy ra ở khoảng trống đó?
AI có thể sản xuất những bài viết cuồn cuộn thông tin đi kèm những lời giải thích ăn liền dựa trên những nghiên cứu thoạt trông có vẻ liên quan.
Trái lại, trong kỷ nguyên mà AI tự động hóa sản xuất, hệ thống không chỉ dừng lại ở việc đưa tin ngắn. Nó sẽ lập tức quét qua biến cố, tự động đối chiếu ngân hàng dữ liệu, gắn vội vài nghiên cứu tâm lý học hành vi hay xã hội học trông có vẻ liên quan rồi xuất bản hàng chục bài phân tích cuồn cuộn thông tin chỉ sau vài phút. Khi một hiện thực vừa xảy ra đã lập tức bị lấp đầy bởi những lời giải thích ăn liền mang vỏ bọc tổng hợp đa dạng thông tin, nó đánh lừa nhận thức của cả tòa soạn lẫn phóng viên rằng "vấn đề đã được xử lý xong xuôi". Chính sự bão hòa của thứ thông tin thô được giải thích vội vã sẽ hạ thấp động lực dấn thân, xóa mờ sự tò mò của phóng viên ngay từ trong trứng nước.
Về kinh tế, mô hình "AI làm tin nhanh, người làm tin sâu" này giả định rằng các ông chủ truyền thông sẽ dùng số tiền tiết kiệm được từ công nghệ rẻ để tái đầu tư vào những chuyến thực địa dài ngày của phóng viên. Không có gì chắc chắn như vậy.
Khi các bài phân tích ráp nối các mẩu sự kiện, phỏng vấn, lời chuyên gia, số liệu thống kê,... bằng thuật toán chứng minh được khả năng mang lại traffic tức thì với chi phí bằng vài phần trăm so với bài viết thủ công, dòng tiền sẽ đổ về nâng cấp thuật toán chứ không đổ vào chi phí công tác. Capote đã cần một khoản tiền ứng trước khổng lồ để có thể sống, ăn ngủ và trò chuyện suốt nhiều năm trời tại Kansas hoang vu. Trong một nền báo chí bài viết rẻ, liệu tòa soạn có muốn dành ngân sách "nuôi" phóng viên dấn thân dài hạn như vậy nữa?
Sâu hơn nữa vào tinh thần báo chí, nếu phóng viên viết bài sâu dựa trên khối dữ liệu khổng lồ do AI drone hay thuật toán gom về, họ đã vô tình nhường quyền "chọn lọc hiện thực" cho máy móc. Drone chọn lia máy góc nào, AI chọn gửi mail phỏng vấn ai, thuật toán giữ lại chi tiết nào và lọc bỏ chi tiết nào... tất cả đều tuân theo logic của những thuật toán thống kê nhất định.
Cả tòa soạn lẫn người đọc đều tưởng rằng mình đang bình luận về một hiện thực, nhưng thực ra đấy là vô số mảnh thông tin đã bị lọc sẵn và được ráp lại cạnh nhau theo một logic thuần túy ngôn ngữ văn bản.
Nguy cơ biến mất của những bài viết máu thịt
Vậy điều gì biến Máu lạnh thành một kiệt tác có thể định nghĩa về báo chí đỉnh cao và tại sao sự sản xuất cơ giới hàng loạt của AI khó lòng đạt được, nếu không muốn nói là ngăn trở nó?
Mối quan hệ giữa báo chí và hiện thực, ở cấp độ đơn giản nhất, vận hành qua lại giữa hai cực tách biệt: chủ thể quan sát (phóng viên/AI) và đối tượng bị quan sát (nhân vật/sự kiện). Phóng viên đứng ngoài cuộc, dùng ngôi thứ ba lạnh lùng để ghi nhận sự thật như một biên bản ghi chép. Đó gọi là báo chí đơn chủ thể, vì nó đơn chủ thể nên khó lòng dựng lại được thế giới đời sống.
Máu lạnh trở thành kiệt tác vì nó là biên bản ghi lại quá trình thiết lập tính liên chủ thể đầy khốc liệt của Capote. Chính con người đầy dằn vặt của Capote khi bước qua mảng tối của xã hội Mỹ mới là chất keo kết dính các chủ thể tưởng chừng rời rạc: từ những người dân thị trấn nghèo bị bóp nghẹt bởi đời sống tôn giáo khắc nghiệt, viên cảnh sát trưởng chịu áp lực phá án trong hệ thống quan liêu trì trệ, cho đến hai kẻ thủ ác đang đối diện với án tử hình nhưng cũng không thể tự lý giải hành động của chính mình.
Ảnh: Shutterstock
Một mặt, Capote dành cho gia đình Clutter và cộng đồng Holcomb một sự cảm thông sâu sắc. Ông kiên nhẫn tái hiện nỗi kinh hoàng, sự mất mát và cảm giác bất an bao trùm một thị trấn nhỏ sau đêm thảm sát. Mặt khác, ông cũng từ chối biến Perry Smith và Richard Hickock thành những con quỷ đơn giản của cái ác. Thông qua việc lần theo tuổi thơ, những tổn thương và những ngã rẽ số phận của họ, Capote buộc người đọc phải đối diện với một sự thật khó chịu: đôi khi khả năng thấu hiểu một con người không đồng nghĩa với việc tha thứ cho những gì người ấy đã làm.
Chính sự cân bằng mong manh giữa lòng trắc ẩn dành cho nạn nhân và nỗ lực thấu hiểu hung thủ đã tạo nên sức hút bền bỉ của Máu lạnh. Capote đặt độc giả vào khoảng không căng thẳng giữa lên án và cảm thông, giữa công lý và lòng thương xót, để mỗi người tự đối thoại với những câu hỏi khó khăn nhất về bản chất con người. Bởi vậy, điều đọng lại ở người đọc là cảm giác rằng đằng sau từng trang viết là một ngòi bút đang cố gắng nhìn thẳng vào cả nỗi đau của nạn nhân lẫn phần người còn sót lại trong kẻ sát nhân mà không hoàn toàn quay lưng với bất cứ phía nào. Đó là minh chứng rõ nét nhất cho tính liên chủ thể đã tạo dựng nên thế giới đời sống thông qua nền tảng báo chí.
Đối chiếu lại với vào kịch bản AI báo chí ở trên, ta thấy điểm khuyết chính là: AI là một thứ vô sinh về mặt chủ thể.
Bản chất của tính liên chủ thể đòi hỏi một sự va chạm giữa các ý thức người bằng xương bằng thịt, nơi người viết dùng toàn bộ căn tính, trải nghiệm và cả sự dằn vặt của mình để làm chiếc cầu nối giữa các thế giới quan xung đột. AI thì không có căn tính để dấn thân, không có hệ giá trị để giằng xé, và càng không phải chủ thể để thành thật hay giả dối.
Khoảng trống thuật toán để lại
Khi một con drone phóng viên bay đến hiện trường, hay một thuật toán tự động quét qua dữ liệu để lập tức xuất bản bài viết, nó chỉ đang thực hiện một hành động kỹ thuật thuần túy nhằm tối ưu hóa thông tin. Nó có thể bóc tách câu chữ, đối chiếu fact-check chuẩn xác, nhưng nó tiếp cận hiện thực bằng lăng kính một chiều của kẻ đứng ngoài cuộc. Đối với máy móc, nỗi sợ hãi của người dân Holcomb hay bước trượt dài của Perry Smith chỉ là những biến số, những mẩu dữ liệu thô cần được phân loại và xử lý theo các mô hình thống kê được định khuôn sẵn.
Những nhà báo đỉnh cao, như Ryszard Kapuściński, có khả năng sống lâu tại hiện trường, quan sát xã hội từ bên trong và viết những phóng sự vừa mang tính báo chí vừa có giá trị văn học. Ảnh: Website Ryszard Kapuściński
Cỗ máy vĩnh viễn bất lực trước việc thiết lập một "sự cân bằng mong manh" hay duy trì một "khoảng không căng thẳng". Nó không biết thế nào là hoài nghi phát sinh từ đạo đức, không biết đau đớn trước tiếng gào câm lặng của nạn nhân, không biết bất lực trước đời sống trì đọng của cộng đồng, và càng không thể dằn vặt khi đối diện với phần người còn sót lại của kẻ sát nhân. Thuật toán của AI luôn hướng tới sự nhất quán, logic và những câu trả lời đóng gói an toàn trên bề mặt ngôn ngữ. Bằng việc triệt tiêu nỗi trăn trở của người viết, AI cũng đồng thời bẻ gãy giao ước về tính chân thành - yêu cầu hiệu lực tối cao để báo chí giữ vai trò là một thiết chế giao tiếp xã hội thay vì một nhà máy sản xuất văn bản.
Sự sản xuất cơ giới báo chí hàng loạt từ AI mà tôi đã dựng lên ở phần đầu báo trước một tương lai có thể xảy ra: báo chí ngập tràn nội dung bề nổi nhưng lại làm nghèo nàn đi năng lực liên chủ thể. Độc giả có thể dễ thỏa mãn bởi những bài báo tự động có vỏ bọc phong cách báo chí phân tích - điều tra, nhưng thực ra họ đang bị loại ra ngoài cuộc trò chuyện liên chủ thể, tức là bị loại khỏi thế giới đời sống. Khi ấy, giao ước tương giao giữa báo chí và người đọc tan vỡ, để lại một khoảng trống mà không thuật toán nào có thể lấp đầy. Bởi suy cho cùng, giá trị tối cao của một nhà báo nằm ở năng lực dấn thân, biết hoang mang và dám thành thật đối thoại với thế giới bằng tư cách của một con người.