Trong chuỗi cung ứng toàn cầu, một linh kiện chỉ có giá vài chục nghìn đồng vẫn có thể mở ra cánh cửa cho doanh nghiệp bước vào một thị trường lớn.
Nhưng để giữ được cánh cửa ấy, doanh nghiệp không chỉ cần làm ra những chi tiết đúng như bản vẽ. Họ còn phải học cách đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe về quy mô, độ tin cậy, nguồn gốc nguyên liệu, phát thải carbon, môi trường, lao động..., từng bước mở rộng năng lực rồi từ đó đảm nhận nhiều công đoạn hơn.
Những bài kiểm tra thăng hạng từ khách hàng quốc tế
Trong bộ phim No Time to Die (2021), điệp viên 007 James Bond rượt đuổi bằng chiếc Triumph mà một số chi tiết ở khoang động cơ có sự góp sức của doanh nghiệp Việt. LeGroup đã chế tạo các bộ giảm âm và linh kiện dẫn khí của chiếc xe tại nhà máy cơ khí của mình ở Khu công nghiệp Quang Minh, Hà Nội.
Đơn hàng của Triump không đến với LeGroup ngay từ đầu. Thành lập năm 2004, thoạt tiên, họ sản xuất những linh kiện dập đơn giản cho một số thương hiệu Đài Loan (Trung Quốc), trước khi đạt chứng nhận IATF 16949 và giành được những đơn hàng đòi hỏi độ chính xác cao hơn từ Honda, Toyota, Piaggio...
"Muốn trở thành nhà cung cấp cho các hãng, trước hết phải sẵn sàng tìm hiểu sâu về những tiêu chuẩn chất lượng mà họ đặt ra. Những yêu cầu đó rất cao, không ai dạy mình cả, mình phải tự nghiên cứu, học hỏi trong nhiều năm," chị Lê Thị Ngọc Lan, Phó Giám đốc LeGroup, chia sẻ với Tia Sáng tại Triển lãm Giao thương Quốc tế Ngành Chế tạo - FBC ASEAN 2026 (Triển lãm) ở Hà Nội giữa tuần trước.
Chị Lan giải thích về những chi tiết công ty nhận làm đòi hỏi độ chính xác cao, không thể rập khuôn tự động trên dây chuyền mà chỉ có bàn tay con người mới tinh chỉnh, đánh bóng, bo tròn... Ảnh: Ngô Hà
Đáng chú ý, quan hệ với các hãng nước ngoài không chỉ mang lại đơn hàng. Chính quá trình kiểm tra, đánh giá năng lực của nhà cung cấp (audit) buộc doanh nghiệp phải liên tục nâng cao năng lực.
"Mỗi lần audit, họ sẽ đưa ra những yêu cầu mà mình phải đạt được thì mới vượt qua lần audit tiếp theo," chị Lan cho biết. "Cứ như vậy, doanh nghiệp phải liên tục cải thiện, cập nhật và duy trì các tiêu chuẩn theo yêu cầu của hãng."
Học từ tiêu chuẩn của khách hàng dường như là con đường mà thế hệ các doanh nghiệp hỗ trợ thành công đời đầu của Việt Nam đều đi qua.
"Khi audit, mỗi khách hàng lại có một góc nhìn khác nhau về cải tiến - từ việc vệ sinh nhà xưởng, 5S, cho đến cải tiến về năng suất, con người hay kỹ thuật. Khách hàng chỉ ra cho chúng tôi những điểm cần cải thiện, công ty sẽ tìm cách khắc phục và chuẩn bị tốt hơn cho vòng kiểm tra sau," anh Vũ Hồng Duy, nhân viên kinh doanh của công ty cơ khí JK Việt Nam, cho biết. "Khi đã hài lòng và đặt hàng, họ lại giới thiệu cho bạn bè hoặc đối tác. Dần dần, khách hàng khác tìm đến chúng tôi."
Cánh cửa hẹp
Ngay cả khi đã vào được chuỗi cung ứng, phần lớn doanh nghiệp phụ trợ Việt Nam như LeGroup hay JK về cơ bản mới chỉ cung cấp những linh kiện hoặc công đoạn tương đối nhỏ.
Nguyên nhân một phần nằm ở quy mô và cấu trúc của ngành. Doanh nghiệp Việt khó cạnh tranh với các nhà cung ứng lớn của Trung Quốc về sản lượng và giá thành. Thay vào đó, họ phải tìm cơ hội ở những đơn hàng nhỏ, phức tạp và khó tiêu chuẩn hóa: một chi tiết sản xuất theo bản vẽ riêng, một lô vài chục hoặc vài nghìn sản phẩm, hay một cụm phụ tùng cần nhiều công đoạn gia công và kiểm soát chất lượng.
Công ty sản xuất - thương mại Đức Hợp, chuyên cung cấp linh kiện và giá kệ cho các nhà máy ô tô, công nghiệp, thường thực hiện những đơn hàng từ 50-300-2.000 linh kiện, so với các đơn hàng lên tới hàng chục nghìn linh kiện các nhà cung ứng Trung Quốc.
"Chúng tôi tập trung vào những thị trường ngách, sản xuất số lượng ít nhưng yêu cầu chất lượng cao, chủ yếu phục vụ các công ty và khách hàng ở châu Âu," Trịnh Tuấn Tú, phụ trách kinh doanh tại gian hàng của Đức Hợp ở FBC ASEAN 2026 nói.
Dù đơn hàng nhỏ, doanh nghiệp vẫn phải đầu tư máy móc, khuôn mẫu, hệ thống quản lý chất lượng và mạng lưới nhà cung cấp. Do chi phí cố định được phân bổ trên số lượng sản phẩm ít hơn, khả năng cạnh tranh bằng giá rẻ trở nên không khả thi.
Robot cắt laser3D dùng trong sản xuất linh kiện ô tô, xe máy, hàng không, nội thất, đồ gia dụng tại triển lãm Giao thương Quốc tế Ngành Chế tạo - FBC ASEAN 2026. Ảnh : Ngô Hà
"Để bù vào lợi thế cạnh tranh về giá cả, chúng tôi phải linh hoạt trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Khách hàng đưa ra yêu cầu khó đến mấy thì anh em vẫn phải cố gắng hết sức đáp ứng", chị Lan nói.
Mặt khác, những đơn hàng nhỏ và khó cũng tạo ra một lợi thế: doanh nghiệp có cơ hội tích lũy năng lực ở những công đoạn có giá trị gia tăng cao.
Chẳng hạn, để đáp ứng tiêu chuẩn, LeGroup đầu tư vào tự động hóa và nhân lực. Máy móc đảm nhận những công đoạn có thể tiêu chuẩn hóa, còn các chi tiết đòi hỏi độ chính xác và độ hoàn thiện cao vẫn cần đến con người. Công nhân phải hoàn thiện đường bo tròn sau khi máy đã cắt sơ bộ, hoặc đánh bóng những vị trí ngóc ngách mà máy không thể chạm tới. "Vì anh em công nhân không còn phải mất sức làm những công việc nặng nhọc như trước, họ được tập trung vào những khâu cuối cùng để bảo đảm chất lượng sản phẩm" chị Lan cho biết.
Tuy nhiên, lợi thế từ các phân khúc ngách sẽ khó đủ đưa doanh nghiệp tiến xa.
Từ người gia công thành người điều phối
LeGroup, JK hay Đức Hợp cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu tham gia trực tiếp hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhưng đó mới là con đường dành cho số ít.
Việt Nam có hơn 5.000 doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ tham gia ngành công nghiệp hỗ trợ, song chỉ khoảng 100 doanh nghiệp đóng vai trò nhà cung ứng sản phẩm hoặc linh kiện trực tiếp hay nhà cung ứng cấp 1 (Tier 1) cho các tập đoàn đa quốc gia, theo số liệu của Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương).
TS. Lê Duy Bình, Giám đốc điều hành tổ chức tư vấn độc lập về chính sách công Economica Việt Nam, nhận định rằng yêu cầu đối với nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng toàn cầu hiện vượt xa câu chuyện sản xuất sản phẩm với giá cạnh tranh. Doanh nghiệp muốn tham gia phải đồng thời đáp ứng rất nhiều tiêu chuẩn về chất lượng, quy mô, độ tin cậy, nguồn gốc nguyên liệu, truy xuất dữ liệu, phát thải carbon, năng lượng, tiêu chuẩn môi trường, lao động và quản trị rủi ro.
Trong khi đó, khảo sát năm 2021 của Tổng cục Thống kê cho biết có tới 80-90% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ chưa áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế hoặc những công cụ quản lý sản xuất thông dụng như ISO, 5S, Lean, 6 Sigma, TQM, TPM. Nói cách khác, năng lực của doanh nghiệp vẫn còn cách khá xa yêu cầu đối với một nhà cung ứng cấp 1 hoặc cấp 2.
Theo TS. Lê Duy Bình, doanh nghiệp Việt sẽ khó đi lên trong chuỗi cung ứng toàn cầu nếu chỉ gia công những chi tiết nhỏ lẻ. Muốn bước tới những nấc cao hơn, họ phải có khả năng sản xuất cả cụm chi tiết, mô-đun hoặc sản phẩm hoàn chỉnh.
Cách đây hai năm qua, các khách hàng Nhật Bản đã ngỏ ý muốn giao cho JK Việt Nam làm những cụm cơ khí lớn hơn. "Lý do chính là hãng muốn tối ưu phần quản lý nhà cung cấp. Thay vì ngày xưa phải chia ra ba-bốn nhà cung cấp thì bây giờ họ chỉ muốn quản lý một-hai nhà mà thôi", anh Duy cho biết.
Khi đảm nhận cả cụm, JK sẽ có cơ hội tăng biên lợi nhuận. Thay vì chỉ bán một chi tiết trị giá vài nghìn đồng, doanh nghiệp có thể cung cấp cả cụm sản phẩm trị giá hàng trăm nghìn, hàng triệu đồng hoặc hơn.
Để làm được điều này, doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào năng lực cơ khí hiện có, mà phải phối hợp với các doanh nghiệp nhựa, cao su, xử lý nhiệt, mạ và sơn. Các đối tác này cũng phải đáp ứng các tiêu chuẩn tương đương, bởi chỉ một linh kiện không đạt yêu cầu có thể làm hỏng cả cụm sản phẩm.
Việc tìm đối tác trong các hiệp hội ngành nghề tương đối thuận lợi, nhưng duy trì chất lượng và tiêu chuẩn đồng đều giữa các doanh nghiệp hợp tác với nhau lại bài toán mới với họ. "Nhưng mình cứ làm thôi, phải thử mới biết. Muốn đi nhanh thì đi một mình, nhưng muốn đi xa thì phải đi cùng nhau", anh Duy kết luận.