Trong một trao đổi trên mạng xã hội hồi tháng 9, nhà văn Đoàn Minh Phượng viết: "Người hùng văn học của tôi năm nay là những người tự làm thơ và tự in thơ mình". Thời gian ăn tôi bằng mọi giác quan, tập thơ tự bỏ tiền in của Linh Văn, nằm trong mạch xuất bản đó.
Linh Văn là ai, công tác ở đâu, được danh hiệu gì, đã in bao nhiêu tác phẩm? Những câu hỏi này, mà một nhà thơ chuyên nghiệp sẽ trịnh trọng trả lời ngay trên bìa sách, được Linh Văn hồi đáp theo cách vui hơn. Mở phần bìa gấp (cover flap) của tập thơ, độc giả chỉ thấy một bức ảnh hoạt hình kèm dòng chữ "Linh Văn - ảnh do ChatGPT phục dựng". Đó là toàn bộ chân dung của nhà thơ mà người đọc được thông báo. Phần còn lại, họ phải tự tìm hiểu qua thơ.
Chân dung tác giả tập thơ Thời gian ăn tôi bằng mọi giác quan do ChatGPT phục dựng. Ảnh: NVH
Như tên gọi và lời tựa gợi ý, mỗi bài trong thi tập là một tinh thể thời gian. Được đóng thành tập, những quãng đời này ngồi lại nhìn nhau qua mắt người đọc, thả cho Linh Văn bằng xương thịt "được tách khỏi một phần của chính mình, bước ra, chờ đợi những khả thể tương lai"; để rồi "hoặc sẽ tiếp tục viết những thứ khác đi, hoặc sẽ chẳng viết gì cả" (Lời tựa trong tập thơ).
Theo cách ấy, tập thơ tưởng niệm quá khứ, tạo nghĩa cho hiện tại, và giải phóng tương lai. Cái nhìn tổng thể này khiến Linh Văn chia tập thơ thành bốn chương: (1) nhịp đời thứ nhất; (2) thời gian ăn tôi bằng mọi giác quan; (3) mai này khi chúng ta rời khỏi; và (4) từ trước thoạt kì thủy.
Nếu chương đầu là cổng dẫn đến cõi kỷ niệm, và chương hai khám phá cách một con người dò bước chân hiện-tại trong mê cung thời gian rối rắm, thì chương ba chiêm nghiệm cái chết và mất mát - những gì tạo nghĩa cho một quãng đời theo cách dấu chấm, dấu phẩy tạo nghĩa cho các câu văn. Những trải nghiệm ấy về thời gian sẽ được thăng hoa trong chương bốn, chương về sự sáng tạo - cơ chế cho phép con người sống một mật độ thời gian cao hơn mọi loài khác.
Như thế, Linh Văn khảo cứu thời gian hai chiều: chiều ngang nối hiện tại vào dĩ vãng, và chiều dọc của những cái chết - nốt trầm, đặt cạnh sự sáng tạo - nốt thăng.
Cuộc khảo cứu này đã khả thi nhờ một yếu tố thứ ba trong âm nhạc: nhịp. Nếu mỗi tác giả có một cõi tinh thần riêng, nơi họ trốn vào trong để sáng tác, thì trú xứ của Linh Văn có nhịp chậm và lỡ, vì vậy buồn. Đó là một nhịp hành động rất thưa, chừa khoảng trống cho các cảm nhận, hoài niệm và tưởng tượng rơi xuống rồi nảy mầm, thành một thảm xanh ngát đợi bóng tha nhân dừng chân ngồi nghỉ:
"Đã muộn rồi, hoa lá, trong khu vườn tưởng tượng của tôi... Bướm bay như cái đẹp có thật, chẳng dành riêng cho một ai. Nắng cắt đôi mọi thứ. Giữa cái ly ánh sáng vô tận, giọng con chim lạ gọi tôi. Về dưới bóng râm tháng Bảy...
em cứ đến ngồi cạnh bên thế thôi
bởi tôi là khoảng trống
hãy đậu xuống bản hòa thanh điền dã
cái bóng nhỏ như nốt lặng của em
bánh xe bò quay chậm hơn chậm hơn
chậm hơn bất cứ chiếc đồng hồ treo tường nào
âm nhạc phát minh ra thời gian
và lá hoa tán thưởng"
"Tôi là khoảng trống" - nhận xét này có lẽ không xa lạ với ai từng chăm chú quan sát thời gian. "Tôi" của quá khứ, hiện tại và tương lai có thể là ba người hoàn toàn khác nhau, ngồi nhìn nhau lạ lẫm trong một quyển nhật ký. Nhưng hiện tại cũng là khoảng trống: "Thực ra mọi tri giác đều đã là hồi ức. Chúng ta chỉ tri giác quá khứ, hiện tại đơn thuần là cái đà tiến không thể nắm lấy được của quá khứ đang gặm nhấm tương lai". Nhan đề Thời gian ăn tôi bằng mọi giác quan, và đoạn trích nói trên trong cuốn Vật chất và Ký ức của Henry Bergson, hình như đang nói chung một ý.
Tập thơ được ấn hành năm 2025. Ảnh: TG
Thời gian càng rỗng hơn khi giác quan của cuộc tình lùi vào quá khứ, nhường hiện tại cho hồi ức và tưởng tượng. Linh Văn viết: "trong căn phòng tháng Bảy chật đầy mùi mưa ẩm, tôi sống cùng giấc mơ quen thuộc... ảo ảnh lưỡi và môi... chờ đợi cuộc vuốt ve chán nhàm từ tháng Tám... tháng Mười Hai đến như chỉ để chứng kiến cái bóng của tôi giữa những điều vắng mặt... và giữa những sinh thể đã từ lâu sống bên ngoài mọi cảm giác".
Trong từng bước chân hiện tại, thời gian trong thơ Linh Văn mở ra tứ phương như một mê cung khiến gia đình lạc nhau, người yêu lạc nhau, và "tôi" cũng lạc mất bản thân, để trở thành kẻ "cả đời đuổi theo cái bóng của chính mình". Kẻ bắt bóng ấy "nghe giọng mình rơi về đáy vực / nghe thời gian nứt ra từ kẽ đá / tiếng trăm năm vỡ dưới cội thông già" - hình như con ve trong thơ Basho đang mượn miệng Linh Văn để hát thêm một biệt khúc nữa.
Mảnh đời "trăm năm" trong thơ Linh Văn là một cuộc lưu vong hướng nội: nó không chỉ là "Trăm năm trong cõi người ta", tức một cuộc lưu vong trong cõi kẻ khác, mà còn là cuộc lưu lạc trong chính bản thân. Và cả trong nỗ lực nắm bắt thực tại: "anh ngỡ mình với tay ra là có thể chạm tới anh của bờ bên kia, nhưng không, thời gian đã kéo giãn mọi thứ - gồm cả sự thật về chính nó - thành những ốc đảo riêng biệt. Vây quanh dòng thơ này chẳng còn gì, ngoài biển của lãng quên". Thơ, với Linh Văn, là keo nhũ vàng để hàn gắn chiếc ly thời gian bị vỡ.
Bằng cách tua thời gian chậm lại, cho đến khi lùi lại: "hãy để tôi ở nơi không còn ai nhìn thấy... dọc đường đi của chú ốc sên... bò rất chậm như thể đang lùi lại...
nơi mỗi ngày mặt trời mọc từ đằng Tây rồi lặn đằng Đông... lá ăn mảnh vườn đêm bằng giọng nói côn trùng... nơi cây cối đâm chồi... xuống các tầng vô định của quá khứ...".
Hoặc bằng cách xây những "chân dung tôi" kiểu Quốc Bảo kiêm "đám ma tôi" kiểu Đinh Hùng, nhằm tạo nghĩa cho sự hủy diệt của thời gian:
"Tôi đếm thời gian của tôi bằng thơ... Bài thơ này của tôi lại đếm thời gian của nó bằng những bài thơ khác. Chữ mọc lên như sẹo trên trang giấy, đẩy bài thơ đến trước nó rơi xuống cái vực không đáy của quá khứ... Để khi câu cuối cùng hoàn tất, nó nằm im như một nghi thức tuyệt đẹp... đợi khoảnh khắc bài thơ đến sau... hiện ra và phủ quyết".
Trên hết, thơ cứu tinh chất của đời sống - tức những rung động có thể được khơi gợi bởi giác quan hoặc ngôn từ, nhưng không được phép đánh đồng với hai thứ ấy - khỏi nguy cơ bị mạo danh và lãng quên. Linh Văn mời người đọc bước vào một "hành trình khó nhọc" "bằng tâm thế của kẻ tội đồ", để đến một miệng vực sâu, nơi ta "đứng bên rìa mọi ngôn ngữ với đôi mắt nhắm". Ta sẽ thấy "bài thơ không ở đây cũng chẳng ở đó: nó là cái cây không bao giờ được gọi tên, mọc và chết ở bên ngoài mọi khu rừng". Từ đây, ta bước qua "cổng giáo đường" của thơ, "với xác thân nhẹ tợ hơi nước" "trong một ngày mưa", để "linh hồn của một lời đã mất tên gọi" được "tìm về giữa dòng kinh cầu nguyện".
Theo cách ấy, thơ giúp sự sống tự nhận ra mình, tự nhớ lại mình giữa thời đại của máy móc, chữ nghĩa, tiền bạc và chiến tranh hủy diệt; để có thể chọn lối đi tiếp theo. Để khi từ giáo đường thơ bước ra, người đọc sẽ thấy rằng:
"một giọt nước sáng lên, một chọn lựa
vừa lướt qua mắt Chúa".