Đây là một số thay đổi đáng chú ý trong loạt cơ chế trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vừa có hiệu lực theo công bố từ Bộ KH&CN.
"Thể chế đã cơ bản hoàn thiện, giờ chỉ còn thực thi."
Đó là thông điệp được Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đưa ra tại Hội nghị Thể chế khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày 15/7.
Tại hội thảo, Bộ KH&CN giới thiệu những thay đổi lớn, từ ưu đãi cho công nghệ chiến lược, cải cách cơ chế tài trợ nghiên cứu đến thay đổi cách đầu tư cho chuyển đổi số.
Ưu đãi thuế cho doanh nghiệp công nghệ chiến lược
Thay đổi đầu tiên là việc hình thành một khuôn khổ thể chế riêng cho công nghệ chiến lược.
Thay vì dàn trải nguồn lực cho mọi lĩnh vực, Nhà nước đã lựa chọn 10 công nghệ chiến lược, 30 sản phẩm công nghệ chiến lược và hơn 20 bài toán lớn có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia để ưu tiên đầu tư, ưu đãi và hỗ trợ phát triển. Đi cùng đó là các cơ chế thử nghiệm chấp nhận rủi ro có kiểm soát (sandbox) nhằm tạo điều kiện để công nghệ mới được phát triển, được kiểm chứng và nhanh chóng đi vào thực tiễn, cùng các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế và nhân lực.
Đáng chú ý nhất là mức ưu đãi thuế thu nhập cho các doanh nghiệp công nghệ chiến lược chỉ còn 10% trong suốt 25 năm, bằng một nửa so với mức thuế phổ thông 20% hiện nay. Đi kèm với đó là cơ chế miễn thuế nhập khẩu vật tư chuyên dùng phục vụ nghiên cứu; giảm một nửa chi phí sử dụng các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và hạ tầng R&D dùng chung.
Các công nghệ chiến lược của Việt Nam.
Giải ngân nhanh trong vòng 90 ngày
Theo Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ Nguyễn Phú Hùng, Bộ KH&CN sẽ mở ra một "Chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược", cho phép xét duyệt và giải ngân nhanh trong vòng 90 ngày. Thay vì quản lý chi tiết từng khoản chi, các dự án sẽ được khoán theo sản phẩm cuối cùng và trao quyền tự chủ cho đơn vị trong việc lựa chọn nhà thầu, nhà cung cấp và tổ chức triển khai.
Một trong những điểm chưa từng có là Nhà nước cho phép với mỗi bài toán, có thể chọn nhiều đơn vị thực hiện các phương án nghiên cứu khác nhau để từ đó sàng lọc ra những kết quả tốt nhất. Cơ chế này đặc biệt có ý nghĩa trong khoa học - công nghệ, bởi cùng một bài toán, nhiều hướng nghiên cứu song song sẽ giúp cơ hội tìm ra lời giải tối ưu mới cao hơn. Chẳng hạn, cùng phát triển một mô hình AI tiếng Việt, có nhóm tập trung xây dựng mô hình nền, có nhóm chọn tinh chỉnh từ các mô hình mã nguồn mở, trong khi nhóm khác tối ưu bằng dữ liệu chuyên ngành.
Về đãi ngộ, các chuyên gia, tổng công trình sư và nhân sự nòng cốt được hỗ trợ toàn diện về tiền thuê nhà ở, chi phí sinh hoạt, điều kiện an sinh xã hội cho cả bản thân và gia đình, cùng cơ chế tiền lương thỏa thuận linh hoạt và mức thưởng tối đa lên đến sáu tháng lương.
Để tăng cơ hội cho sản phẩm công nghệ ra thị trường, Nhà nước có kế hoạch ưu tiên đấu thầu, đặt hàng mua sắm các sản phẩm công nghệ chiến lược nội địa. Trên cơ sở này, ở một số lĩnh vực còn đang có đề xuất thêm cơ chế nhà nước "bao thầu sản phẩm đầu ra" để tạo lập thị trường cho các doanh nghiệp phát triển công nghệ mới, chẳng hạn như đưa các sản phẩm vaccine 6 trong 1 hoặc vaccine mRNA sản xuất bằng công nghệ chuyển giao vào các chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình chăm sóc y tế quốc gia... như lời đề xuất của TS. BS. Nguyễn Ngô Quang, Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo (Bộ Y tế) tại hội thảo.
Bằng chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược này, ông Nguyễn Phú Hùng khẳng định "kiên quyết không dừng lại ở tư duy gia công hay tư duy phụ thuộc vào nhập khẩu."
Trong Viện Vắc xin và sinh phẩm Y tế (IVAC), đơn vị sản xuất vaccine cúm dựa trên trứng gà có phôi. Ảnh: PATH
Giao dự toán linh hoạt, quản trị theo kết quả
Nếu công nghệ chiến lược là câu chuyện đầu tư vào đâu, thì thay đổi thứ hai tập trung vào câu hỏi đầu tư như thế nào.
Theo ông Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Văn phòng các Chương trình trọng điểm cấp nhà nước, thời gian tới, hai quỹ đầu tư lớn của nhà nước - NAFOSTED dành cho các dự án nghiên cứu và NATIF dành cho các dự án đổi mới công nghệ - sẽ chuyển mạnh từ "quỹ tài trợ" sang "quỹ kiến tạo", lấy khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu và hỗ trợ doanh nghiệp làm chủ công nghệ làm mục tiêu vận hành.
Theo đó, các nhiệm vụ nhận ngân sách từ những quỹ này sẽ được giao dự toán linh hoạt, quản trị theo kết quả và giải ngân theo mốc tiến độ. Đặc biệt, các quỹ công nhận rủi ro khoa học nếu dự án không thành công, thông qua việc miễn trừ trách nhiệm dân sự, hành chính và hình sự cho các bên tham gia nếu đã tuân thủ đúng quy trình và yêu cầu minh bạch của quỹ.
Trước đây, các quỹ tài trợ cho khoa học, công nghệ của Nhà nước quan tâm nhiều đến việc "tiền được chi như thế nào". Do vậy, các nhóm nghiên cứu sẽ phải lập dự toán rất chi tiết (mua hóa chất, thiết bị, công tác phí, thuê chuyên gia...), lưu hóa đơn chứng từ và quyết toán từng khoản. Điều này tạo ra một gánh nặng giấy tờ vất vả cho những người dẫn đầu dự án, khi họ phải lãng phí (đôi khi lên tới 20-40%) thời gian nghiên cứu vào câu chuyện thủ tục hành chính.
Sự thay đổi này cũng được kỳ vọng sẽ khuyến khích các nhà khoa học và doanh nghiệp theo đuổi những ý tưởng táo bạo hơn. Trước đây, do e ngại chi sai, chi thiếu, hoặc không đạt được kết quả như thuyết minh ban đầu, nên các dự án được Nhà nước tài trợ thường có xu hướng "an toàn", chỉ kiểm nghiệm những gì đã có, tránh đưa ra các ý tưởng đột phá nhiều rủi ro. Điều này dẫn đến việc các nhà khoa học và doanh nghiệp khó tạo ra sản phẩm mới, tỷ lệ ứng dụng vào thị trường còn thấp. Tương tự, cơ chế miễn trừ trách nhiệm (nếu thực hiện đúng các quy trình) sẽ nhằm để khuyến khích tinh thần dám thử nghiệm và dám đổi mới.
Ông Đào Ngọc Chiến cho biết, NAFOSTED và NATIF sẽ hỗ trợ sâu cho các dự án sẵn sàng công nghệ, tức là từ khi công nghệ được kiểm chứng trong phòng thí nghiệm, phát triển thành nguyên mẫu, thử nghiệm trong môi trường thực tế, đến hoàn thiện sản phẩm và thương mại hóa trên thị trường.
Phòng sạch, Trung tâm Nano và Năng lượng, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, nơi đào tạo và nghiên cứu về bán dẫn. Ảnh: Giang Huy
Tiến tới phân bổ ngân sách theo thực tiễn năng lực
Bên cạnh việc tăng ngân sách cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo lên tối thiểu 3% tổng chi ngân sách nhà nước từ năm 2026, Bộ KH&CN cũng thay đổi cách phân bổ nguồn lực.
Theo bà Hoàng Thị Phương Lựu, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ đang xây dựng hệ thống dữ liệu để việc cấp kinh phí trong những năm tới dựa nhiều hơn vào kết quả thực hiện và năng lực của từng tổ chức nghiên cứu.
Theo cơ chế mới, năm đầu tiên 2027, ngân sách sẽ vẫn được cấp theo đề xuất của các bộ, ngành và địa phương để hình thành bộ dữ liệu ban đầu. Năm 2028 và 2029 sẽ dùng lịch sử của năm liền kề trước đó để làm căn cứ phân bổ ngân sách trung bình cho từng loại nhiệm vụ. Từ những năm sau, kinh phí rót xuống sẽ được tính toán dựa trên kết quả thực hiện và mức chi trung bình của các năm trước.
Song song với đó, Bộ KH&CN và Bộ Tài chính cũng đang chuẩn hóa hệ thống mục lục hạch toán ngân sách cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm theo dõi dòng vốn minh bạch và thống nhất hơn.
Theo bà Hoàng Thị Phương Lựu, khi dễ dàng rà soát thống kê [dòng ngân sách] thì tỷ lệ giải ngân cũng sẽ tăng lên. Bà cho biết, qua trao đổi với Kho bạc nhà nước, tính đến tháng 7/2026, tỷ lệ giải ngân cho khoa học-công nghệ trong vòng 10 ngày qua đã tăng từ 23% lên hơn 28%. Mặc dù tỷ lệ này còn thấp so với tốc độ giải ngân của các dòng vốn ngân sách cho các lĩnh vực khác hiện nay (trung bình 36%), nhưng các thay đổi cho thấy quá trình "đang bắt đầu đi vào nhịp". Bà hi vọng tốc độ giải ngân trong 5 tháng cuối năm sẽ tăng nhanh hơn để tiến gần hơn tới mục tiêu 3% tổng chi ngân sách.
Ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó giám đốc Kho bạc Nhà nước, nhờ số hóa quy trình và kết nối dữ liệu trên Cổng Dịch vụ công, các khoản chi cho khoa học, công nghệ chỉ mất 1-2 ngày để đến đơn vị sử dụng, trong khi cơ quan quản lý có thể theo dõi liên tục tình hình giải ngân từ 3.321 xã, phường thuộc 34 tỉnh, thành phố và toàn bộ các bộ, ngành.
Doanh nghiệp công nghệ số có thêm cơ hội bán sản phẩm cho Nhà nước
Nỗ lực thúc đẩy chuyển đổi số của Việt Nam trong các cơ quan nhà nước thường gặp phải nút thắt lớn từ luật đấu thầu và mua sắm công-vốn được thiết kế cho hạ tầng vật lý như đường sá, cầu cống, thay vì phần mềm hay điện toán đám mây. Vòng đời để phê duyệt và cấp vốn cho một dự án chuyển đổi số có dùng ngân sách nhà nước có thể kéo dài từ 1 đến 2 năm. Đến khi hợp đồng được trao thầu, công nghệ đó thường đã lỗi thời.
Tới đây, theo ông Lê Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, các quy định mới có hiệu lực từ ngày 01/7 mở ra nhiều cánh cửa cho doanh nghiệp và các bộ, ngành, địa phương.
Giao diện Cổng thông tin tiếp nhận và công bố các sản phẩm, giải pháp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trên điện thoại. Ảnh: Lưu Quý
Thứ nhất, chuyển đổi số lần đầu tiên có dòng ngân sách riêng trong Luật Ngân sách nhà nước và Luật Chuyển đổi số, thay vì phải lồng ghép vào các chương trình khác như trước. Chi thường xuyên và chi đầu tư, tối thiểu 1/3 khoản chi ngân sách cả nước hàng năm, tạo nguồn vốn ổn định hơn cho các dự án chuyển đổi số của khu vực công.
Thứ hai, doanh nghiệp phát triển giải pháp số sẽ được chia sẻ rủi ro nhiều hơn trong giai đoạn thử nghiệm. Ngân sách nhà nước có thể hỗ trợ tối đa 30% chi phí thử nghiệm, nhưng không quá 15 tỷ đồng cho mỗi nhiệm vụ. Trước đây, doanh nghiệp phải tự bỏ toàn bộ kinh phí, trong khi sau khi thử nghiệm thành công vẫn chưa chắc được triển khai rộng rãi.
Thứ ba, quy định mới cho phép chủ đầu tư thuê hoặc đặt hàng một nhà thầu thực hiện trọn gói toàn bộ dự án, thay vì phải chia nhỏ thành nhiều gói thầu như trước.
Cụ thể, với các dự án quy mô lớn như cơ sở dữ liệu quốc gia, nền tảng số quốc gia, nền tảng phục vụ quản trị và điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Cổng Dịch vụ công quốc gia hay hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan nhà nước có thể giao cho một doanh nghiệp đảm nhiệm toàn bộ các khâu: từ lập dự án, thiết kế, xây dựng, nâng cấp, mở rộng theo mô hình "chìa khóa trao tay", hoặc theo hình thức EP (thiết kế - triển khai).
Tương tự, đối với các dự án phần mềm phục vụ nội bộ, cơ quan nhà nước có thể thuê một nhà thầu vừa thiết kế vừa triển khai hệ thống. Sau khi dự án hoàn thành, đơn vị này cũng có thể tiếp tục được giao quản trị, vận hành và bảo trì hệ thống.
Theo đại diện Cục Chuyển đổi số quốc gia, cách làm này phù hợp với đặc thù của các hệ thống phần mềm, vốn cần được nâng cấp thường xuyên, linh động. Đơn vị trực tiếp thiết kế và phát triển hệ thống sẽ là bên hiểu rõ nhất kiến trúc, ưu điểm và hạn chế của hệ thống, từ đó có thể vận hành và nâng cấp hiệu quả hơn là giao cho các bên riêng rẽ.
Cuối cùng là cơ chế miễn trừ trách nhiệm cho chủ đầu tư. Theo đó, nếu chủ đầu tư đã thực hiện đầy đủ, công khai và minh bạch việc lấy báo giá theo quy định thì sẽ không phải chịu trách nhiệm về mức giá do doanh nghiệp chào. Trong trường hợp doanh nghiệp cố tình báo giá cao hoặc nâng khống giá, trách nhiệm sẽ thuộc về chính doanh nghiệp đó. Trước đây không có quy định này.
Kỹ sư đang thử nghiệm trạm gốc 5G do Việt Nam phát triển. Ảnh: Trọng Đạt
Sau nhiều năm kiến nghị về cơ chế, thông điệp được nhắc lại nhiều nhất tại hội thảo không còn là "cần thêm chính sách", mà là đưa các chính sách vừa ban hành vào cuộc sống.
Với cộng đồng doanh nghiệp và các nhà khoa học, loạt cơ chế mới mở ra nhiều quyền tự chủ và cơ hội tiếp cận nguồn lực hơn trước. Tuy nhiên, những thay đổi này chỉ tạo ra tác động thực sự nếu được triển khai nhất quán ở các bộ, ngành và địa phương, để các doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học có thể tiếp cận nhanh hơn với nguồn vốn, thị trường và các chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo.
Như lời khẳng định của Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, mỗi đồng vốn "chậm giải ngân" không đơn thuần là khoản kinh phí chưa được sử dụng, mà còn đồng nghĩa với một công nghệ "chậm được nghiên cứu", một sản phẩm "chậm được hình thành", một doanh nghiệp "chậm có cơ hội đổi mới" và cuối cùng là một "động lực tăng trưởng bị bỏ lỡ".
Ông kêu gọi các nhà khoa học, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp hãy tận dụng những thuận lợi từ thể chế mới để nhanh chóng tạo ra các công nghệ, sản phẩm và giải pháp thực tiễn phục vụ phát triển đất nước.