Tiến sĩ Norell tin rằng khủng long không hoàn toàn tuyệt chủng, mà chúng sống sót dưới dạng chim. Ông khẳng định: "Cũng giống như con người là một loài linh trưởng, chim cũng là một loài khủng long".
Năm 1990, sau nhiều thập kỷ các nhà cổ sinh vật học phương Tây bị cấm săn tìm hóa thạch ở Mông Cổ, TS. Norell và Michael Novacek đã dẫn một nhóm nghiên cứu từ Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên (Mỹ) cùng hợp tác với Viện Hàn lâm Khoa học Mông Cổ để khám phá vùng đất hoang vắng của sa mạc Gobi.
Ba năm sau, dưới cái nắng hè như thiêu đốt của vùng sa mạc, họ đã phát hiện ra một khu vực nhiều hóa thạch tới khó tin mang tên Ukhaa Tolgood. Ở đây có vô vàn bộ xương khác nhau được bảo quản vô cùng tốt, trong đó có các loài khủng long giống chim như oviraptor và velociraptor, thằn lằn và động vật có vú. Địa hình bị xói mòn nơi đây để lộ ra những bộ xương gần như hoàn chỉnh của các sinh vật mà cho tới nay chúng ta chỉ biết đến nhờ việc tỉ mỉ tái tạo các mảnh xương rải rác.
Một trong những khám phá ấn tượng của cuộc khai quật này là một quả trứng khủng long. TS. Norell đã phát hiện quả trứng khủng long oviraptor bị nứt vỡ có phôi cuộn tròn bên trong, dường như nó sắp nở. Phát hiện này vô cùng quan trọng, bởi lẽ hóa thạch trứng khủng long hiếm khi còn xương bên trong, còn quả trứng mà TS. Norell tìm thấy lại chứa hài cốt của một phôi khủng long nhỏ từ 80 triệu năm trước.
Những mảnh xương nhỏ này lại giúp giải thích một khám phá từ hơn 70 năm trước đó. Vào những năm 1920, nhà thám hiểm Roy Chapman Andrews cùng nhóm của mình đã phát hiện một hóa thạch khủng long oviraptor trưởng thành trên một tổ trứng. TS. Andrews tin rằng những quả trứng này thuộc về loài khủng long tiền sừng (Protoceratops) có mỏ, ăn cỏ - loài khủng long này phổ biến ở sa mạc Gobi trong Kỷ Phấn trắng. Ông đặt giả thuyết là khủng long oviraptor trộm trứng từ tổ của khủng long tiền sừng. Song, quả trứng mà TS. Norell tìm thấy lại khớp với những quả trứng được tìm thấy vào những năm 1920. Vì vậy, các nhà khoa học hiện nay cho rằng hóa thạch khủng long oviraptor mà TS. Andrews tìm thấy thực ra đang bảo vệ tổ trứng của chính nó.
![]() |
TS. Mark Norell (1957-2025) trong một chuyến thám hiểm ở Wyoming vào năm 2018. Nguồn: Denis Finnin/AMNH |
Ngoài quả trứng, TS. Norell còn phát hiện một hóa thạch khủng long oviraptor trưởng thành nằm ấp trên tổ trứng. Trong vài năm tiếp theo, nhóm nghiên cứu phát hiện thêm nhiều con khủng long oviraptor làm tổ tại địa điểm này, cũng như các mẫu vật của nhiều loài khủng long khác.
Hành vi làm tổ của các con khủng long càng củng cố mối liên hệ của chúng với loài chim, đặc biệt là cách chúng cẩn thận sắp xếp trứng – đây có lẽ là một cách nhằm tối ưu hóa quá trình ấp.
"Điều đó thực sự nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa các loài chim đang sống và khủng long. Rất nhiều đặc điểm trên bộ xương của khủng long oviraptor được tìm thấy tại địa điểm đó, cũng như bộ xương khủng long chân thú (theropod) còn lông vũ được bảo quản cực tốt từ miền Bắc Trung Quốc, mà Mark cũng nghiên cứu, cho thấy mối liên hệ trong nhiều khía cạnh cấu trúc của hộp sọ, các chi, móng vuốt, não bộ và hệ thống giác quan tương tự như chim", TS. Novacek cho biết.
Mark Allen Norell sinh ngày 26/7/1957 ở thành phố Saint Paul, Minnesota. Từ nhỏ, ông đã sớm tỏ ra hứng thú với thế giới tự nhiên. Mark sưu tầm côn trùng, các hòn đá và hóa thạch. Những mẫu vật này được Mark trưng bày trong phòng của mình, trong đó có cả một bộ xương của sói đồng cỏ mà ông ghép lại. Năm cấp hai, giáo viên khoa học của Mark đã giới thiệu ông vào một chương trình tại khoa cổ sinh vật học của Bảo tàng Quận Los Angeles. Lên cấp ba, Mark đã cùng các nhà khoa học của khoa này đi săn tìm hóa thạch ở sa mạc Mojave và Mexico.
Mark lấy bằng cử nhân ngành động vật học ở Đại học Bang California, Long Beach năm 1980. Ba năm sau, ông lấy bằng thạc sĩ sinh học tại Đại học Bang San Diego. Năm 1986, ông còn lấy được bằng thạc sĩ triết học tại Đại học Yale. Ông học lên tiến sĩ về sinh học tại Đại học Yale và hoàn thành khóa học vào năm 1988.
Mark ở lại Đại học Yale giảng dạy một năm trước khi về Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên làm trợ lý giám tuyển vào năm 1989. Khi Bảo tàng cân nhắc về việc tuyển TS. Norell về làm, ông vẫn chưa chuyên về lĩnh vực cổ sinh vật học. Lúc đó, ông đang làm nghiên cứu trong lĩnh vực sinh học phân tử. Nhưng khi được hỏi là liệu ông có muốn tập trung vào khủng long hay không, TS. Norell đã đồng ý.
Một năm sau khi về đây công tác, ông được đề bạt lên làm giám tuyển, đồng thời được bổ nhiệm vào chức chủ nhiệm bộ phận cổ sinh vật học của Bảo tàng. Ông hai lần đảm nhiệm chức vụ này, từ năm 1999-2006 và 2008-2021, và trở thành chủ nhiệm danh dự.
TS. Norell đã phụ trách tổ chức nhiều triển lãm tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, bao gồm "Khủng long Công viên Kỷ Jura" (1993) và "Khủng long Chiến đấu: Những Khám phá Mới từ Mông Cổ" (2000), về hóa thạch 80 triệu năm tuổi của một con velociraptor và một con protoceratops trong trận chiến ác liệt, móng vuốt của velociraptor cắm ngập vào cổ con protoceratops.
Những phát hiện mang tính đột phá của ông đã cách mạng hóa hiểu biết của chúng ta về sự tiến hóa của khủng long. Nghiên cứu sâu rộng của ông về hệ động vật Trung sinh châu Á và khủng long có lông vũ từ Liêu Ninh, Trung Quốc, đã mang lại cho TS. Norell sự trọng vọng từ trong và ngoài ngành. Ông từng được tạp chí Time vinh danh là một trong mười câu chuyện khoa học quan trọng nhất. Những đóng góp của TS. Norell cho lĩnh vực này, được thể hiện qua nhiều ấn phẩm và sự xuất hiện của ông trong các bộ phim tài liệu được đánh giá cao, đã củng cố di sản của ông như một nhân vật tiên phong trong ngành cổ sinh vật học động vật có xương sống.
Ngoài các tác phẩm chuyên ngành, TS. Norell còn chắp bút một số cuốn sách cho trẻ em như: "Searching for Velociraptor" (1996) và "A Nest of Dinosaurs: The Story of Oviraptor" (1999), cả hai cuốn sách này đều viết cùng Lowell Dingus, và "Unearthing the Dragon: The Great Feathered Dinosaur Discovery" (2005). Những tác phẩm này đã gây được ấn tượng mạnh với trẻ em nhiều thế hệ, khiến trẻ quan tâm tới loài sinh vật huyền thoại này. Một số nhà cổ sinh vật học cho biết mình đã bước vào lĩnh vực cổ sinh vật học nhờ những ấn phẩm dành cho trẻ em của TS. Norell.
Nguồn:
New York Times, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Mỹ
Bài đăng KH&PT số 1363 (số 39/2025)
Hiếu Ngân tổng hợp
