Nghị định số 179/2026/NĐ-CP về chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược là một bước đi cần thiết nhằm đầu tư cho những lĩnh vực quyết định tương lai của đất nước. Vậy, khoa học xã hội và nhân văn sẽ như thế nào, đó là trọng tâm cuộc đối thoại với PGS.TS Phan Thanh Bình, nguyên giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM, nguyên Ủy ban Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.
Phóng viên: Nghị định 179 là một cú hích bề mặt cần thiết, mà trong 111 nhóm ngành ưu tiên không có khoa học xã hội. Ở tầng sâu hơn, giữa làn sóng công nghệ của xã hội hiện tại, điều gì đã buộc thầy đặt bút viết nên câu hỏi: "Sau công nghệ là gì?"?
PGS. TS Phan Thanh Bình: Không phải một sự việc riêng lẻ, mà chính những gì đang diễn ra trong giáo dục và đời sống xã hội khiến câu hỏi ấy ngày càng rõ hơn.
Nghị định 179 là một chính sách rất cần thiết. Muốn phát triển AI, bán dẫn, công nghệ lượng tử hay các công nghệ chiến lược, Việt Nam phải đầu tư cho khoa học cơ bản. Không có Toán học, Vật lý, Hóa học và những tri thức nền tảng đủ mạnh thì rất khó nói đến làm chủ công nghệ. Tôi hoàn toàn ủng hộ hướng đi đó.
Nhưng càng nói nhiều về công nghệ, càng cần trả lời một câu hỏi quan trọng khác: làm chủ công nghệ để làm gì, phục vụ ai và hướng đến một xã hội như thế nào?
Bởi cùng lúc chúng ta nói về AI, chuyển đổi số, năng suất lao động, trong giáo dục và đời sống lại xuất hiện nhiều vấn đề về lý tưởng sống, trách nhiệm, văn hóa ứng xử, niềm tin và hệ giá trị. Đó không phải câu chuyện nằm ngoài khoa học. Nó chính là những vấn đề nền tảng về con người và xã hội.
Vì vậy, "Sau công nghệ là gì?" không phải là câu hỏi để nghi ngờ công nghệ. Ngược lại, chính vì muốn KHCN thực sự trở thành động lực phát triển đất nước nên càng phải đặt câu hỏi ấy. Sau công nghệ, cuối cùng vẫn là con người.
PGS. TS Phan Thanh Bình. Ảnh: ĐHQG TP.HCM
Chúng ta nói nhiều về GDP, về năng suất lao động. Nhưng phía sau những con số đó, Thầy nhắc đến sự "thực dụng", "bạo lực" và "vô cảm". Từ góc nhìn của một nhà nghiên cứu gắn bó hơn nửa đời với giáo dục, thầy nhìn nhận sự đứt gãy hệ giá trị này đang tác động tới thế hệ trẻ ra sao?
Tôi thận trọng với chữ "đứt gãy", bởi không thể từ một số hiện tượng mà kết luận hệ giá trị của cả một thế hệ đang đứt gãy. Nhưng rõ ràng đang có những biến đổi và những biểu hiện đáng quan tâm.
Điều đáng suy nghĩ không chỉ là thực dụng, bạo lực hay vô cảm. Sâu hơn là sự thay đổi rất nhanh của thước đo thành công, lý tưởng sống và quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng. Người trẻ hôm nay sống trong một thế giới rộng hơn, nhiều cơ hội hơn, nhưng cũng chịu sức ép rất lớn của tiền bạc, thành công nhanh, mạng xã hội và nhiều hệ giá trị khác nhau.
Nếu giáo dục chỉ trang bị kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng sử dụng công nghệ mà không giúp hình thành tư duy độc lập, nhân cách, trách nhiệm, khả năng phân biệt đúng – sai và khát vọng cống hiến, chúng ta có thể đào tạo ra những người rất giỏi sử dụng công cụ nhưng chưa chắc đã biết sử dụng công cụ ấy vì điều gì.
Một đất nước không thể phát triển bền vững chỉ bằng GDP cao hơn. Cuối cùng vẫn phải trở lại câu hỏi về chất lượng con người và chất lượng xã hội.
AI có thể tối ưu hóa dữ liệu nhưng không thể định chuẩn đạo đức hay trả lời câu hỏi "làm vì ai". Nếu có một hạ tầng công nghệ lõi rất mạnh nhưng lại yếu về KHXH&NV, đâu là rủi ro? KHXH&NV phải "cầm cương" như thế nào?
Tôi không nghĩ KHXH&NV phải "cầm cương" công nghệ. Cách nhìn đó vẫn tách khoa học tự nhiên, công nghệ và KHXH&NV thành những thế giới riêng biệt. Trong thời đại AI, chúng ngày càng phải gặp nhau một cách tự nhiên.
AI có thể ngày càng giỏi trả lời câu hỏi "làm thế nào", nhưng "có nên làm không", "làm vì ai", "giới hạn ở đâu" vẫn là những câu hỏi của con người. Để trả lời những câu hỏi đó cần cả công nghệ, pháp luật, đạo đức, triết học, tâm lý học, xã hội học, kinh tế học và nhiều lĩnh vực khác.
Thậm chí KHXH&NV không chỉ xuất hiện sau khi công nghệ đã được tạo ra để "định hướng" cách sử dụng. Nó tham gia ngay từ việc đặt câu hỏi nghiên cứu, hiểu nhu cầu và hành vi con người, dự báo tác động xã hội đến xây dựng thể chế cho công nghệ mới.
Vì vậy, vấn đề không phải "thừa thông minh nhưng thiếu trắc ẩn", mà là làm sao để năng lực công nghệ và năng lực con người cùng phát triển. AI càng mạnh, con người càng cần tư duy phản biện, khả năng phán đoán, sáng tạo và trách nhiệm.
PGS. TS Phan Thanh Bình cùng các giáo sư Trần Thanh Vân, Phạm Quang Hưng, Yannick Giraud-Héraud tại Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành Quy Nhơn, năm 2011. Ảnh: Phan Cử
Để KHXH&NV không chỉ là những lời kêu gọi trên giấy, nếu có một cơ chế mang tính "đột phá" tương đương Nghị định 179 dành cho nghiên cứu con người, theo thầy điểm nghẽn nào cần được điều chỉnh?
Tôi nghĩ vấn đề lớn hơn không phải là có cần ra một "Nghị định 179 thứ hai" cho KHXH&NV hay không.
Điều đáng suy nghĩ là từ tinh thần của Nghị định 179, cần tiến tới một nhận thức đầy đủ hơn về khoa học cơ bản và năng lực khoa học quốc gia. Khi nói đến khoa học cơ bản, xã hội thường nghĩ ngay đến Toán, Vật lý, Hóa học. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Một đất nước cần hiểu tự nhiên để làm chủ công nghệ, nhưng cũng phải hiểu chính con người, xã hội, văn hóa và con đường phát triển của mình.
Tổng Bí thư trong nhiều phát biểu cũng đã nhấn mạnh đến khoa học cơ bản, nghiên cứu lý luận, khoa học xã hội và nhân văn, văn hóa và con người. Vì vậy, đây không phải hai hướng đối lập, mà là những mảnh ghép của cùng một chiến lược phát triển.
Muốn làm được điều đó phải có những đại học nghiên cứu, viện nghiên cứu đủ mạnh; có đội ngũ nhà khoa học giỏi và có chính sách để giảng viên, nhà nghiên cứu trẻ, sinh viên tài năng có thể theo đuổi khoa học lâu dài. Chính sách đối với từng lĩnh vực có thể khác nhau, nhưng không thể có khoa học mạnh nếu không có con người làm khoa học và những thiết chế đủ sức nuôi dưỡng khoa học.
Hội nhập và số hóa không thể cào bằng bản sắc. Thầy hình dung thế nào về "căn tính" của một người trẻ Việt Nam trong 20 năm tới? Họ cần một "hệ điều hành" tư duy và tâm hồn như thế nào?
Người trẻ Việt Nam 20 năm tới chắc chắn sẽ khác chúng ta hôm nay, và cũng không nên đòi hỏi họ phải giữ nguyên một khuôn mẫu của quá khứ. Căn tính dân tộc không phải là đóng cửa để bảo tồn, mà là biết mình là ai khi bước ra thế giới.
Một người trẻ Việt Nam tương lai có thể sử dụng AI hằng ngày, làm việc với đồng nghiệp khắp thế giới, sống trong một không gian văn hóa toàn cầu. Nhưng bên trong họ vẫn cần một "hệ điều hành Việt Nam": tư duy độc lập, khả năng phản biện, lòng tự trọng, sự tử tế, khả năng thấu cảm, ý thức trách nhiệm; đồng thời hiểu lịch sử, văn hóa dân tộc và biết mình có trách nhiệm với cộng đồng, đất nước.
Hội nhập không có nghĩa là hòa tan. Trái lại, thế giới càng phẳng về công nghệ thì bản lĩnh, văn hóa và khả năng tạo ra những giá trị riêng càng trở nên quan trọng. Giáo dục trong thời đại AI vì vậy không phải là dạy người trẻ cạnh tranh với máy móc. Điều cốt yếu là phát triển những năng lực con người mà máy móc không thể thay thế hoàn toàn: biết đặt câu hỏi, biết phản biện, biết sáng tạo, biết lựa chọn và biết chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình.
Khoa học cơ bản được coi là nền tảng của phát triển bền vững. Trong thời đại AI, liệu còn cần các ngành khoa học cơ bản thuộc KHXH&NV hay các ngành này phải chuyển đổi như thế nào?
Không những còn cần mà theo tôi, thời đại AI càng cho thấy giá trị của khoa học cơ bản, cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, nhân văn.
Điều quan trọng là không nên tiếp tục nhìn các lĩnh vực này như những thế giới riêng biệt. Những vấn đề lớn của thời đại ngày nay càng ngày càng vượt qua ranh giới của từng ngành khoa học riêng lẽ. AI là một ví dụ rất rõ. Muốn phát triển AI phải có toán học, khoa học máy tính và những nền tảng của khoa học tự nhiên. Nhưng bản thân AI cũng liên quan trực tiếp đến ngôn ngữ, nhận thức, hành vi, kinh tế, pháp luật, giáo dục, văn hóa và tổ chức xã hội. Đó không còn là bài toán riêng của khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội, mà là bài toán liên ngành ngay từ bản chất.
Vì vậy, KHXH&NV trong thời đại AI cũng phải chuyển đổi. Không thể chỉ nghiên cứu xã hội bằng những cách tiếp cận truyền thống, mà cần mạnh hơn về dữ liệu, phương pháp định lượng, công nghệ số và khả năng làm việc liên ngành. Ngược lại, đào tạo khoa học và công nghệ cũng cần trang bị nhiều hơn tư duy phản biện, hiểu biết về con người, xã hội và bối cảnh.
Điều AI đang làm không phải là khiến một số ngành khoa học trở nên ít cần thiết hơn, mà đang buộc chúng ta phải vượt qua những ranh giới ngành vốn có. Những đột phá lớn trong tương lai rất có thể sẽ xuất hiện chính ở những vùng giao thoa ấy.
Xin cám ơn thầy!