![]() |
71% nguồn vốn đầu tư mạo hiểm trong lĩnh vực khởi nghiệp khí hậu năm 2024 đến từ vòng gọi vốn Series A trị giá 70 triệu USD của TechCoop. Trong ảnh: Nhân viên TechCoop cùng một người trồng cam từ hội nông dân được công ty hỗ trợ. Nguồn: TechCoop |
Công nghệ khí hậu bao hàm những công nghệ tập trung vào việc giảm phát thải khí nhà kính hoặc giải quyết các tác động của hiện tượng nóng lên toàn cầu, được chia thành bảy lĩnh vực chính: Nông nghiệp và Thực phẩm, Phương tiện giao thông, Kinh tế tuần hoàn, Chuyển đổi năng lượng, Hạ tầng xây dựng, Carbon, và Kinh tế biển.
Năm ngoái, thị phần đầu tư mạo hiểm vào lĩnh vực công nghệ khí hậu ở Việt Nam chiếm 22,3% tổng hoạt động đầu tư mạo hiểm trong nước và gần gấp đôi mức trung bình toàn cầu (12%), theo Báo cáo Hệ sinh thái đầu tư khởi nghiệp công nghệ khí hậu Việt Nam 2025.
Báo cáo - do New Energy Nexus Việt Nam, Đại học RMIT và Dự án AGILE phối hợp thực hiện - còn cho biết, trong giai đoạn 2015 - 2024, tổng cộng 78 doanh nghiệp công nghệ khí hậu tại Việt Nam đã huy động được số vốn gần 205 triệu USD thông qua 217 thương vụ, nhưng riêng năm 2024 đã chiếm gần 100 triệu USD.
Bên cạnh đó, số nhà đầu tư tác động vào công nghệ khí hậu tại Việt Nam cũng tăng từ một vào năm 2020 lên mười vào năm ngoái. Nhưng đồng thời, họ cũng đặt ra các yêu cầu cao hơn về đo lường tác động, bình đẳng giới và các tiêu chuẩn về sức khỏe - an toàn - môi trường - xã hội (HSES) để dần tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế, bởi các doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế sẽ có khả năng tránh các rủi ro về pháp lý cũng như dễ mở rộng và thâm nhập các thị trường có yêu cầu HSES khắt khe.
TP. Hồ Chí Minh tiếp tục giữ vị trí trung tâm huy động vốn lớn nhất cả nước trong lĩnh vực khí hậu, theo sau là Hà Nội và Đà Nẵng - Báo cáo nhận xét.
Tuy nhiên, những con số ấn tượng nêu trên mới phản ánh sự tăng trưởng bứt phá ở bề mặt. Chẳng hạn, Báo cáo chỉ ra, phần lớn tổng số vốn đầu tư trong năm 2024 đến từ riêng vòng gọi vốn Series A trị giá 70 triệu USD của Techcoop - một startup được xếp vào lĩnh vực Nông nghiệp và Thực phẩm của công nghệ khí hậu. Bằng cách tập trung vào số hóa chuỗi cung ứng nông nghiệp, Techcoop hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, hội nông dân và nông dân trồng các loại cây có giá trị cao như điều, cà phê, dừa và cây ăn quả.
Đây là một trong những vòng gọi vốn công nghệ nông nghiệp lớn nhất tại Việt Nam và Đông Nam Á cho đến nay, với sự tham gia của các nhà đầu tư như Ascend Vietnam Ventures (AVV) và TNB Aura. Khoản đầu tư này được dành để đẩy nhanh quỹ đạo tăng trưởng của Techcoop thông qua nâng cao nền tảng công nghệ, tối ưu hóa tích hợp chuỗi giá trị và mở rộng năng lực xuất khẩu. Thương vụ của Techcoop là một thành công rực rỡ, song nó cho thấy hệ sinh thái đầu tư công nghệ khí hậu còn phụ thuộc nhiều vào các giao dịch mang tính cột mốc chứ chưa trải đều khắp thị trường.
Ngoài ra, tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ khí hậu vượt qua giai đoạn chuyển tiếp sau giai đoạn hạt giống giảm còn 11,11%, thấp hơn so với 32,2% của toàn ngành công nghệ. Khoảng cách này đang có xu hướng được nới rộng kể từ năm 2023 - Báo cáo phân tích.
Thiếu nguồn vốn nội địa
Đặc biệt, Báo cáo chỉ ra một điểm thiếu bền vững khác của hệ sinh thái đầu tư vào lĩnh vực khí hậu là thiếu các nguồn vốn nội địa: chỉ có bốn quỹ đầu tư mạo hiểm trong nước tham gia vào các thỏa thuận công nghệ khí hậu năm 2024, gồm AVV, Touchstone Partner, Ethos Fund và AiViet Venture.
Từ phần trả lời phỏng vấn của các doanh nghiệp công nghệ khí hậu, Báo cáo đã xác định một số thách thức chính đang cản trở họ huy động vốn. Các doanh nghiệp cho rằng các quỹ đầu tư còn dè dặt bởi các công nghệ khí hậu thường đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu (capex) cao cho sản xuất và cơ sở hạ tầng, trong khi các quỹ dường như ưa chuộng các lĩnh vực có chi phí vốn thấp hơn như phần mềm dưới dạng dịch vụ (SaaS), nền tảng công nghệ tài chính (FinTech) hay công nghệ giáo dục (EdTech). Hơn nữa, các doanh nghiệp công nghệ khí hậu nhìn chung có quỹ đạo tăng trưởng chậm hơn so với các lĩnh vực được nhà đầu tư ưa chuộng khác, ví dụ như trí tuệ nhân tạo và tự động hóa, thương mại điện tử và FinTech.
Về phần mình, đại diện các quỹ đầu tư đánh giá nhiều doanh nghiệp trong hệ sinh thái đang theo đuổi các xu hướng khởi nghiệp ngắn hạn, dẫn đến tăng trưởng thiếu bền vững. "Một số startup Việt thường phát triển các ý tưởng dựa trên điều chỉnh hoặc sao chép từ các ý tưởng nước ngoài, và quan trọng hơn, họ thường thiếu các cơ chế thích hợp để bảo vệ những ý tưởng đó", ông Hà Thế An, Quỹ đầu tư Earth Venture, chia sẻ trong Báo cáo. Việc chạy theo xu hướng có thể khiến các doanh nghiệp từ bỏ các đổi mới công nghệ khí hậu cốt lõi, dẫn đến các mô hình kinh doanh không đáp ứng được nhu cầu thị trường dài hạn hoặc ít khả năng mở rộng, khiến nhà đầu tư ngần ngại.
Một rào cản đáng kể khác đối với nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia hệ sinh thái công nghệ khí hậu của Việt Nam là khả năng tuân thủ các tiêu chuẩn ESG (môi trường - xã hội - quản trị) trong nước. Do khung pháp lý chưa hoàn thiện, đồng bộ, năng lực triển khai ESG còn hạn chế và việc thu thập dữ liệu để báo cáo chưa đầy đủ, bài bản, các doanh nghiệp trong nước thường gặp khó khăn trong đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế chặt chẽ với yêu cầu báo cáo chi tiết, định lượng và toàn diện. Thực tế này buộc các nhà đầu tư phải dành thời gian và nguồn lực đáng kể để thẩm định khả năng tuân thủ ESG theo tiêu chuẩn quốc tế của doanh nghiệp, làm chậm trễ hoặc giảm ý định đầu tư.
Đồng thời, hạn chế về khả năng sử dụng tiếng Anh và khác biệt văn hóa, như chia sẻ từ JDI Group và Epic Angels, vô tình làm giảm hiệu quả trong việc thuyết trình và xây dựng niềm tin của các nhà sáng lập đối với nhà đầu tư quốc tế.
Lực đẩy từ chính sách
Việc gọi vốn cho hầu hết các lĩnh vực của công nghệ khí hậu đều trải qua một năm khá trì trệ khi số vốn đầu tư giảm hoặc không đổi. Ngoại lệ duy nhất là lĩnh vực Chuyển đổi năng lượng, với giá trị các thương vụ lên tới 15,5 triệu USD trong năm 2024, gấp năm lần năm 2023. Đáng kể hơn, các thương vụ trải dài trên khắp các phân khúc sản xuất, cải thiện hiệu suất và lưu trữ năng lượng tái tạo, cho thấy cả sự tự tin của nhà đầu tư và sự sẵn sàng về công nghệ của doanh nghiệp.
Báo cáo lý giải mức tăng nguồn vốn ấn tượng này là nhờ hàng loạt chính sách về năng lượng mới được ban hành, âm thầm định hình lại bản đồ đầu tư tại Việt Nam. "Luật Điện lực 2024 và Nghị định 135/2024/NĐ-CP về Điện mặt trời mái nhà đang tạo ra những thay đổi cơ bản cho bức tranh đầu tư năng lượng tái tạo tại Việt Nam bằng cách tạo ra một thị trường tư nhân khả thi", Báo cáo viết. Trong đó, cơ chế mua bán điện trực tiếp được hợp pháp hóa tại Luật Điện lực là chìa khóa để huy động nguồn vốn quy mô lớn cho các dự án năng lượng tái tạo. Nhờ cơ chế này, các tập đoàn đa quốc gia có thể ký hợp đồng thẳng với các nhà máy điện tái tạo, đảm bảo dòng doanh thu ổn định, dài hạn và không cần một tổ chức nhà nước nào đứng ra bảo lãnh việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Dòng doanh thu này cho phép các dự án năng lượng tái tạo dễ dàng tiếp cận các khoản vay ngân hàng - vốn là yêu cầu của nhiều quỹ đầu tư "xanh" quốc tế và tổ chức tài trợ dự án, đặc biệt đối với các dự án có vốn lớn như điện gió ngoài khơi.
Trong khi đó, Nghị định 135 đơn giản hóa các thủ tục hành chính, ví dụ như miễn trừ giấy phép hoạt động điện lực cho các hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu, giúp giảm chi phí giao dịch và đẩy nhanh đầu tư vào các hệ thống điện mặt trời phân tán quy mô thương mại và công nghiệp. "Ngoài điện mặt trời mái nhà, cơ hội tiếp theo nằm ở việc phát triển một nền tảng quản lý năng lượng tích hợp, kết nối hiệu quả năng lượng, xe điện và lưu trữ năng lượng, về bản chất là một hệ sinh thái tích hợp tất cả trong một", bà Jessica Nga Trần, Giám đốc điều hành quốc gia của Clime Capital tại Việt Nam, nhận định.
Hệ sinh thái kỳ vọng nhiều chính sách khác cũng sẽ đem lại những biến chuyển tích cực cho các lĩnh vực còn lại. Có thể kể đến Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về Phát triển kinh tế tư nhân; Nghị định số 57/2025/NĐ-CP quy định cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn; hay Chỉ thị số 20/CT-TTg về một số nhiệm vụ cấp bách, quyết liệt ngăn chặn, giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường. "Chính sách phải dẫn đường, sau đó các doanh nghiệp sẽ theo sau và tạo ra nhu cầu thị trường, và dần dần điều đó sẽ thu hút các giải pháp từ các doanh nghiệp công nghệ khí hậu và các gói đầu tư từ các quỹ đầu tư mạo hiểm", ông Đoàn Hải Nam, Quỹ đầu tư ThinkZone, nói.
Tài liệu tham khảo:
https://drive.google.com/drive/folders/17gQS4y_30l46qXa-7NQ2Lu1hsZYAWqWY?usp=sharing
Bài đăng KH&PT số 1374 (số 50/2025)
Trà My
