Năm 1643, quan hệ giữa Đàng Trong và Hà Lan trở nên công khai thù địch, do công ty Đông Ấn Hà Lan đứng về phe chúa Trịnh để tấn công chúa Nguyễn, còn công tử Nguyễn Phúc Tần ở Đàng Trong đã đánh chìm ba chiếc tàu Hà Lan tại cảng Eo. [1]
Vậy mà chỉ mấy mươi năm sau, một chàng trai Đàng Trong đã dấn thân sang tận Hà Lan để tiếp cận những công nghệ quang học và cơ khí tinh vi. Dù biết bản thân sẽ bị chính quyền Hà Lan giam giữ hoặc trục xuất nếu để lộ nguyên quán, chàng trai vẫn bất chấp hiểm nguy để lên đường đi tìm tri thức. Chàng trai đó là Nguyễn Văn Tú, người xã Đại Hào, huyện Đăng Xương, nay thuộc xã Triệu Bình, tỉnh Quảng Trị.
Phủ biên tạp lục (Ghi chép tản mạn về việc vỗ yên vùng biên cương) của Lê Quý Đôn có kể về hành trạng của Nguyễn Văn Tú. Sách cho biết khi trẻ, chàng học ở nước "Hòa Lan", học hai năm biết được nghề, có thể chế các hạng đồng hồ và làm được kính thiên lý (ống nhòm) rất khéo [2].
Giai đoạn này không hẳn không có người Việt ở trời Âu, nhưng đa số họ xuất dương vì lý do tôn giáo. Phần đông là những chủng sinh, thầy tu người Việt theo Công giáo La Mã, muốn nâng cao hiểu biết về đạo, hoặc muốn được truyền chức linh mục. Họ thường đi theo các thầy truyền giáo Dòng Tên sang các nước thượng tôn Công giáo mà Hà Lan không nằm trong số đó. Hà Lan là một trong những thành trì của phong trào Cải cách Kháng Cách (Protestant Reformation), tức phong trào cải cách Kitô giáo do Martin Luther khởi xướng năm 1517, phản đối một số thực hành của Giáo hội Công giáo và dẫn đến sự ra đời của các giáo hội Tin Lành.
Không chỉ đối địch với giáo hội Công giáo La Mã và Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan còn là địch thủ của Bồ Đào Nha trong lĩnh vực hải thương. Hai bên tranh giành gắt gao các tuyến đường hàng hải và độc quyền mậu dịch hương liệu tại châu Á. Mối quan hệ kình địch đó ảnh hưởng rõ rệt đến cuộc phân tranh giữa hai họ Trịnh-Nguyễn. Người Bồ Đào Nha kết liên minh với chúa Nguyễn ở Đàng Trong, trong khi người Hà Lan hỗ trợ chúa Trịnh ở Đàng Ngoài để tấn công chúa Nguyễn.
Trong bối cảnh đó, Nguyễn Văn Tú đã khăn gói sang Hà Lan học nghề. Không có nhiều tư liệu để biết lúc đó chàng đã tự mình đi hay được ai đài thọ, nhưng hành trình ra nước ngoài ắt hẳn không dễ như bây giờ khi Hà Lan là một điểm đến lạ lẫm đối với người Đàng Trong. Và Nguyễn Văn Tú vượt gần nửa vòng Trái đất chắc hẳn không vì lý do tôn giáo hay chính trị như bao người đồng hương. Bởi lẽ, nếu vì tôn giáo thì ông đã chọn một đất nước Công giáo như Bồ Đào Nha hay Pháp, còn nếu vì chính trị thì Bồ Đào Nha - đồng minh của chúa Nguyễn - sẽ là điểm đến hợp lý hơn. Từ đó cho thấy điều chàng trai truy cầu có lẽ thuần túy là tri thức.
Nguồn ảnh: Wikimedia
Hà Lan đầu thế kỷ XVIII là một nước nhỏ nhưng dường như nằm ở vị trí tiên phong của nền văn minh phương Tây, nơi chủ nghĩa tư bản, ngoại thương, tài chính, hàng hải, báo chí, khoa học công nghệ đều đi trước các nước. Đây cũng là một trung tâm quang học và cơ khí hàng đầu thế giới.
Những tên tuổi người Hà Lan như Zacharias Janssen, Antonie van Leeuwenhoek và Christiaan Huygens lần lượt góp phần phát triển ống nhòm, kính hiển vi, hoàn thiện thấu kính có độ phóng đại cao, cải tiến kính thiên văn, đồng hồ quả lắc và nhiều dụng cụ đo chính xác.
Vào thời đại của Nguyễn Văn Tú, kính thiên văn, ống nhòm và đồng hồ cơ phương Tây được coi trọng tại nhiều nước Á Đông. Kính thiên văn và ống nhòm nâng cao khả năng quan sát trong thiên văn, hàng hải và quân sự, đồng thời góp phần truyền bá tri thức khoa học mới. Đồng hồ cơ mang đến phương pháp đo thời gian chính xác, phục vụ quan sát thiên văn, đo đạc và công tác hành chính. Chúng không chỉ là công cụ thực dụng mà còn là biểu tượng của trình độ kỹ thuật phương Tây, được các triều đình như nhà Thanh (Trung Quốc), Mạc phủ Tokugawa (Nhật Bản) và các chúa Nguyễn sưu tầm hoặc đặt mua từ châu Âu. Chính quyền Đàng Trong từng trang bị một loạt đồng hồ kiểu Tây ở các quân doanh để báo giờ.
Tri thức về quang học và thấu kính trong sách được in ấn ở Việt Nam đầu thế kỷ 20.
Tuy nhiên việc chế tạo và sửa chữa các khí cụ mới này hoàn toàn lệ thuộc vào các nhà truyền giáo phương Tây. Theo Phủ biên tạp lục, nhà Nguyễn có một chiếc đồng hồ ở Thiên Văn Nội Viện bị hỏng. Giáo sĩ Phương Tây là Từ Tâm Bá lần lữa nhiều năm không chữa được. Lại có người khách tên là Tài Phú, quê ở Ma Cao, giỏi nghề đồng hồ, nhưng cũng lấy cớ tuổi già thoái thác không nhận sửa [1].
Có lẽ nỗi trăn trở trước cảnh nước nhà bị chèn ép về kỹ thuật đã thôi thúc chàng trai trẻ Nguyễn Văn Tú dấn thân đến tận xứ sở Hà Lan xa xôi để tự tay làm chủ bằng được kỹ nghệ làm kính và đồng hồ từ nơi phát triển nhất. Sau khi sở học thành tài, ông đã có thể chế các hạng đồng hồ và làm được kính thiên lý rất khéo.
Không chỉ lành nghề, Nguyễn Văn Tú còn truyền hiểu biết cho người nhà mình. Phủ biên tạp lục viết, "em của ông là Văn Thi, con là Văn Duy, con rể là Lương Văn Dũng, cả nhà đều biết nghề, thành ra một gia tộc chuyên chế tạo kính và đồng hồ kiểu phương Tây ở Đàng Trong. Ông được phong Chiêu tài Nam tước Nguyễn Văn Tú" [2].
Việc ban tước hiệu cho thấy chính quyền chúa Nguyễn không xem những người đổi mới công nghệ như ông chỉ là những thợ thủ công tầm thường, mà thực sự ghi nhận tài năng của ông. Từ Chiêu tài trong tước hiệu của ông chính là "mời gọi tài năng". Qua đó, chính quyền chủ động nâng địa vị xã hội của Nguyễn Văn Tú, đưa ông vượt lên trên thân phận thường dân và xếp vào hàng ngũ quý tộc có địa vị trong xã hội.
Mặt đồng hồ ở Đàng Trong, vừa có chữ vừa có số, khắc giờ từ Đinh đến Tý (12 giờ), rồi từ Quý ngược lên đến Ngọ (12 giờ). Giờ nọ cách giờ kia có 4 vạch nhỏ, tức 4 khắc. Mỗi khắc bằng 15 phút. Ảnh gốc: Đào Trinh Nhất
Phủ biên tạp lục đã làm nổi bật năng lực của Chiêu tài Nam tước qua một sự kiện: khi quân Trịnh đánh chiếm Phú Xuân vào năm 1776, chúa Nguyễn bỏ chạy và để lại chiếc đồng hồ Tây Phương ở Thiên Văn nội viện bị hỏng. Quân Trịnh muốn tìm người sửa chữa. Có người xưng là thợ kính của họ Nguyễn, trước là thủ hợp (một chức quan nhỏ trong các xưởng, ty của chúa Nguyễn), có thể làm được. Đó chính là Chiêu Tài nam tước Nguyễn Văn Tú. Ông bèn được sai theo phép mà làm, mười ngày thì xong. Sau đó, Nguyễn Văn Tú lại chế tạo một "đồng hồ hạng trung" theo mẫu của chiếc đồng hồ hỏng, nhưng bớt đi 5 bánh xe và 6 quả chuông nhỏ, cùng một đường dây, cho nên không đánh khắc (mỗi 15 phút) mà chỉ đánh giờ. Đo với bóng của mặt trời mà nghiệm thì không sai. Lúc này ông đã 74 tuổi mà sức mắt như lúc trẻ [2].
Như vậy, Nguyễn Văn Tú không chỉ thể hiện trình độ vượt trội mà còn gây dựng cả một gia tộc làm chủ những công nghệ cơ khí đo thời gian tiến bộ nhất lúc bấy giờ.
---
Tài liệu tham khảo:
[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1. Viện Sử học dịch, Hà Nội, Nxb Giáo dục, 2002, tr. 55 - 56.
[2] Lê Qúy Đôn. Phủ biên tạp lục. NXB Văn hóa Thông tin, 2007, tr. 419 - 423.