Hơn 42% hộ nông thôn dành ít nhất 10% ngân sách thực phẩm cho nhóm này, trong khi ở thành thị chỉ khoảng 25%. Điều này đi ngược với suy nghĩ phổ biến rằng đồ ăn công nghiệp chủ yếu là "câu chuyện của thành phố".
Mì ăn liền, snack khoai tây chiên, nước ngọt,... là những món được nhiều người ưa chuộng vì tiện lợi. Nhưng đây cũng là các thực phẩm siêu chế biến được sản xuất công nghiệp, chứa nhiều phụ gia, giàu năng lượng nhưng nghèo dinh dưỡng, đồng thời có hàm lượng đường, muối và chất béo cao.
Việc sử dụng quá mức nhóm thực phẩm này có liên quan đến béo phì và các bệnh không lây nhiễm. Thực phẩm siêu chế biến đang len sâu vào bữa ăn của người Việt, do những thay đổi lớn hơn trong cách chúng ta tiếp cận và lựa chọn thực phẩm.
Nhưng người sống ở nông thôn lại dành tỷ lệ ngân sách cho thực phẩm siêu chế biến cao hơn thành thị - đi ngược với suy nghĩ lâu nay rằng thu nhập là yếu tố quyết định mức chi cho nhóm thực phẩm này. Vậy, vì sao xu hướng này không diễn ra mạnh nhất ở đô thị?
Một bé trai mua bim bim trong siêu thị. Ảnh: Minh Nga
Để trả lời câu hỏi này, các nhà nghiên cứu từ Trường Đại học Thương mại (Việt Nam), Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) và Đại học Wageningen (Hà Lan) đã phân tích dữ liệu chi tiêu của các hộ gia đình cho 7 loại thực phẩm siêu chế biến là mì ăn liền, nước ngọt, đồ ăn nhẹ, đồ ngọt, sữa có đường, bánh mì và thịt chế biến sẵn.
Dữ liệu được sử dụng là bộ dữ liệu khảo sát hành vi tiêu dùng năm 2018, thu thập từ 726 hộ gia đình tại ba điểm: Cầu Giấy (đô thị), Đông Anh (ven đô) và Mộc Châu (nông thôn).
Mạng lưới thực phẩm sẵn có
Kết quả cho thấy thực phẩm siêu chế biến đã trở thành một phần đáng kể trong bữa ăn của người Việt, bất kể thu nhập, vị trí địa lý hay điều kiện kinh tế - xã hội. Mì ăn liền, đồ uống có đường và đồ ăn nhẹ là những loại thực phẩm siêu chế biến được dùng nhiều nhất.
Tuy nhiên, mức độ sử dụng không giống nhau giữa các khu vực. Dữ liệu cho thấy các thực phẩm siêu chế biến phổ biến nhất là những sản phẩm tiện lợi, giá rẻ và dễ mua - đặc biệt với người dân nông thôn. Có 80,2% hộ nông thôn ăn mì ăn liền trong tuần khảo sát, so với 63,9% ở đô thị. Tương tự, tỷ lệ hộ sử dụng đồ ăn nhẹ và nước ngọt cũng cao hơn rõ rệt ở nông thôn (đồ ăn nhẹ: 50,4% so với 33,7%; nước ngọt: 46,6% so với 20,1%).
Ngược lại, người dân sống ở thành thị sử dụng sản phẩm gắn với lối sống đô thị nhiều hơn như bánh mì tiệm (69,9% ở đô thị so với 29,4% ở nông thôn) hay sữa công thức (46,6% so với 10,1%).
Như vậy, sự khác biệt này cho thấy, những sản phẩm rẻ, tiện lợi đang phổ biến nhanh ở nông thôn, trong khi các sản phẩm khác vẫn gắn với điều kiện và thói quen tiêu dùng ở đô thị.
Tỷ lệ hộ gia đình tiêu thụ thực phẩm siêu chế biến trong 7 ngày trước khi thu thập dữ liệu, phân theo khu vực nông thôn, thành thị và ven đô. Ảnh: Tia Sáng. Dữ liệu: doi.org/10.1016/j.gfs.2026.100917
Một điểm đáng chú ý khác là thu nhập không quyết định hoàn toàn đến việc mua thực phẩm siêu chế biến, khi kết quả nghiên cứu cho thấy nhìn chung tỷ trọng tiêu thụ không khác biệt nhiều giữa các nhóm thu nhập.
"Phát hiện này cho thấy chế độ ăn không lành mạnh không chỉ là câu chuyện tiền bạc, đồng thời đặt lại câu hỏi về quan niệm phổ biến cho rằng giá cả và khả năng chi trả là rào cản lớn nhất trong việc tiếp cận thực phẩm đầy đủ, an toàn và giàu dinh dưỡng", nhóm nghiên cứu viết trong bài báo mới công bố.
Tuy nhiên, đúng là những hộ gia đình nghèo nhất ăn thực phẩm siêu chế biến ít hơn so với các nhóm thu nhập cao hơn.
Theo nhóm nghiên cứu, việc xác định chính xác đâu là yếu tố khiến người dân nông thôn, và rộng hơn là người Việt, sử dụng nhiều thực phẩm siêu chế biến không hề đơn giản. Tuy vậy, các nghiên cứu trước đây có thể đưa ra một số hướng giải thích.
Chẳng hạn, mạng lưới phân phối thực phẩm công nghiệp vào nông thôn qua các cửa hàng tạp hóa truyền thống, vốn là điểm mua sắm gần gũi nhất với nhiều hộ, ngày càng lan rộng hơn, có thể là một nguyên nhân.
Một cửa hàng tạp hóa. Ảnh: Shutterstock
Ngoài ra, yếu tố văn hóa cũng có thể là một tác nhân. "Người tiêu dùng trẻ ở cả nông thôn lẫn đô thị ngày càng ưa chuộng thực phẩm kiểu phương Tây, như một phần của khát vọng xã hội và kinh tế", các nhà nghiên cứu đưa ra một góc nhìn.
Xu hướng ăn uống ngoài hàng quán ngày càng phổ biến cũng góp phần thúc đẩy việc tiêu thụ các loại thức ăn nhanh kém lành mạnh hơn.
Tăng cường thực phẩm lành mạnh qua chợ truyền thống
Phát hiện chính của nghiên cứu cho thấy tiêu thụ thực phẩm siêu chế biến không phụ thuộc quá mức vào thu nhập, mà liên quan nhiều hơn đến môi trường thực phẩm và mức độ dễ tiếp cận các thực phẩm siêu chế biến. Điều này cho thấy các chính sách chỉ dựa vào giá cả hoặc kêu gọi thay đổi hành vi khó mang lại hiệu quả.
Đồng thời, một nghiên cứu khác vào năm 2025 của Mạng lưới đổi mới sáng tạo nông nghiệp toàn cầu (CGIAR) đánh giá môi trường thực phẩm của Việt Nam, cho thấy phần lớn các khía cạnh của môi trường thực phẩm ở Việt Nam đều đạt điểm thấp hoặc rất thấp, đặc biệt trong các lĩnh vực như quảng cáo, ghi nhãn, quản lý bán lẻ và chính sách thuế.
Theo các chuyên gia, không thể chỉ trông vào việc người dân tự thay đổi hành vi ăn uống lành mạnh hay doanh nghiệp tự điều chỉnh; các mục tiêu sức khỏe cần được đưa vào các quy định cụ thể về quảng cáo, ghi nhãn và bán thực phẩm.
Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến nghị cụ thể như bổ sung hệ thống phân loại dinh dưỡng rõ ràng, định nghĩa chuẩn về "thực phẩm lành mạnh/không lành mạnh", và các mục tiêu giảm muối, đường, chất béo chuyển hóa.
Bên cạnh đó, cần hỗ trợ chợ truyền thống và người bán hàng rong cung cấp thực phẩm tươi sống với giá phải chăng; thúc đẩy mạng lưới chợ truyền thống, tăng các lựa chọn mua thực phẩm lành mạnh hơn ở khu vực còn thiếu thốn.
Đồng thời, siết chặt quy định về truyền thông thực phẩm: đưa ra các giới hạn nghiêm ngặt và bắt buộc đối với quảng cáo hướng tới trẻ em.
Một giải pháp quan trọng khác là sử dụng chính sách tài khóa, chẳng hạn như thuế tiêu thụ đặc biệt đối với đồ uống có đường của Việt Nam (đã được thông qua năm 2025 và dự kiến áp dụng từ 2027) để giảm tiêu thụ các sản phẩm không lành mạnh.
Và điều quan trọng là cần tăng cường đánh giá tác động của các chính sách một cách toàn diện để phát hiện các khoảng trống, giúp nâng cao hiệu quả và định hướng hành động trong tương lai.
"Việt Nam là một ví dụ sinh động cho một xu hướng chung: môi trường thực phẩm đang thay đổi nhanh hơn các khung chính sách", như nhận định trong thông cáo báo chí của Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) khi công bố báo cáo của CGIAR 2025. "Chúng ta cần phối hợp hành động để bắt kịp với thực tế mà người dân đang đối mặt - từ kệ hàng, ngoài đường phố cho đến các nền tảng số".
---
Tài liệu tham khảo:
Béné, C., Hernandez, R., Trinh, H. T., Even, B., & Hoang, K. (2026). Consumption of ultra-processed food in emerging countries: evidence from a rural - urban gradient in Vietnam. Global Food Security, 49, 100917. https://doi.org/10.1016/j.gfs.2026.100917
Even, B., Truong, T. T. T., Thai, H. T. M., Pham, H. T. M., Nguyen, D. T., Bui, A. T. V., & Béné, C. (2025). Unpacking food environment policy landscapes for healthier diets in "emerging" countries: the case of Viet Nam. Frontiers in Public Health, 13, 1548956. https://doi.org/10.3389/fpubh.2025.1548956
Vietnam’s food environment is changing fast. Policy needs to catch up, https://www.eurekalert.org/news-releases/1099989