Gần đây tôi có xem một số phim cổ trang Việt Nam. Tạm gác phục trang, nghi lễ, bối cảnh văn hóa hay tình tiết câu chuyện sang một bên, chỉ bàn riêng lời thoại, cứ hễ nhân vật nói được vài câu, tôi lại cảm thấy bất ổn. Nhân vật lịch sử nói năng hiện đại là một nhẽ. Bên cạnh đó, người ta cố gắng khiến lời thoại trở nên "cổ phong" hơn, nhưng lại không dựa trên kiến thức lịch sử, mà bằng cách sử dụng những từ ngữ trong phim cổ trang Trung Quốc.
Hơn hết, những điều này bắt nguồn từ thói quen nghe nhìn, bởi suốt mấy chục năm qua, người Việt xem nhiều phim cổ trang Trung Quốc, thành ra đã quá quen với những từ "huynh", "muội", "đại nhân", "tiểu nhân", "tại hạ", "bổn cung", "ai gia", "khải bẩm"... Đến mức những cách nói ấy dần trở thành một thứ tín hiệu văn hóa, chỉ cần nhân vật thốt lên vài từ như vậy, người xem lập tức tin rằng đây là cách xưng hô trong quá khứ.
Nói cách khác, phim ảnh đã tạo ra trong đầu chúng ta một thứ "cổ phong tưởng tượng". Vấn đề nằm ở chỗ, những cách xưng hô trong phim ảnh mà chúng ta tưởng là cổ xưa đó chưa chắc đã đúng với cách nói của người Việt trong quá khứ, thậm chí cũng không hoàn toàn là cách nói của người Trung Hoa trong quá khứ. Ngược lại, ngôn ngữ người Việt xưa, nếu thực sự tìm hiểu, có khi chúng ta lại thấy hết sức lạ lẫm. Chỉ cần nhìn vào đại từ nhân xưng thôi cũng đủ thấy nghịch lý ấy.
"Tôi" ngày xưa không hẳn là "tôi" ngày nay
Cách xưng hô của người Việt trong quá khứ phong phú và có thể hết sức xa lạ với chúng ta ngày nay. Thiết kế ảnh: Trần Quang Đức dựa trên tranh Chúa Nguyễn và triều thần trong Chu ấn thuyền hội quyển (1609).
Ngày nay, "tôi" là một trong những đại từ ngôi thứ nhất phổ biến nhất trong giao tiếp lịch sự, mang sắc thái tương đối trung tính. Nhưng trong tiếng Việt khoảng một trăm năm trước đây, tôi trước hết có nghĩa là tôi tớ, gia nhân, thuộc hạ, rồi mới được dùng làm đại từ nhân xưng với nghĩa tự hạ mình trước người đối diện. Từ điển Việt - Bồ - La (năm 1651) giải thích: "Tôi: Đầy tớ, gia nhân, thuộc hạ." Và ở một mục khác: "Tôi: cách nói khiêm hạ. Tôi lạy ông: Tôi tôn kính ông", khác với sắc thái trung tính của "tôi" hiện nay.
Các ghi chép thế kỷ XVII cũng cho thấy người Việt khi nói với người bề trên có thể tự xưng là "tôi". Như giáo sĩ Marini, sống ở Đàng Ngoài từ năm 1646 đến 1658, ghi lại những hình thức thưa gửi trong cung đình như "Tôi tâu Đức vua", "Tôi dộng Chúa" [1], "Tôi thân Đức ông", "Tôi chiềng" [2]. Sang thế kỷ XVIII, Đỗ Thế Giai (1709 - 1766) trong các tờ khải dâng vua Lê, chúa Trịnh vẫn mở đầu bằng cách nói: "Tôi cẩn khải vâng lạy Đức bề trên" [3]. Đầu thế kỷ XIX, Lê Chất (1769 - 1826) trong tờ tấu chữ Nôm gửi vua Gia Long đã viết: "Tấu vái Đức hoàng thượng muôn muôn năm cao minh ngự lãm", cuối tờ tấu viết: "Chúng tôi thật lo thật sợ cúi vái. Đức hoàng thượng muôn muôn năm. Ngày 10 tháng 12 năm Gia Long thứ 16 (1817). Bề tôi Lê Tông Chất cẩn tấu." [4] v.v.
Như vậy, "tôi" đã trải qua một quá trình biến đổi đáng chú ý: từ một danh từ chỉ thân phận lệ thuộc, trở thành cách tự xưng khiêm hạ, rồi dần mất đi sắc thái thấp kém để trở thành đại từ lịch sự và tương đối trung tính như ngày nay. Nếu không nắm được sự biến đổi về sắc thái lịch sử ấy, chúng ta rất dễ lấy hệ thống xưng hô hiện đại áp đặt vào miệng người xưa.
Một ông vua xưng "tao"
Ngược lại, có những từ ngày nay nghe rất suồng sã, thậm chí thô tục, nhưng trong quá khứ lại không hoàn toàn mang đúng sắc thái như người Việt cảm nhận hiện nay.
Trong Từ điển Việt - Bồ - La (năm 1651), Alexandre de Rhodes phân biệt khá rõ: Ta là cách người trên nói với người dưới, nhưng người dưới ấy vẫn thuộc hạng được coi trọng. Còn tao là cách người trên nói với người ở địa vị rất thấp, so với mình, chẳng hạn như cha nói với con, người quyền quý nói với kẻ tiện dân. Bởi vậy, đọc Thiền tông bản hạnh của Chân Nguyên, soạn vào khoảng cuối thế kỷ XVII - đầu XVIII, chúng ta có thể bắt gặp Phật hoàng Trần Nhân Tông nói với tùy tùng: "Thị tòng bay đi cùng tao, thăm xem dân thế dường nào cho hay!" Hoặc giả: "Bay! Lòng tao thuở này muốn tới Ngọa Vân." Thậm chí: "Gọi lấy Bảo Sát cho tao...", "Pháp Loa tao đã truyền lòng..."
Như vậy, một vị vua có thể tự xưng là tao, và gọi kẻ hầu người hạ là bay. Nếu đưa nguyên những câu ấy vào phim lịch sử ngày nay, có lẽ không ít khán giả sẽ phản ứng: Phật hoàng sao lại ăn nói bỗ bã như thế? Nhưng chính phản ứng đó lại cho thấy một vấn đề thú vị: ngữ cảm của chúng ta thuộc về thế kỷ XXI, không phải thế kỷ XVII, càng không phải thế kỷ XIII. Từ ngữ vẫn còn đó, nhưng quan hệ xã hội và sắc thái biểu cảm chứa đựng trong chúng đã thay đổi.
Những cách xưng hô xa lạ
Thế giới đại từ nhân xưng của người Việt trước đây còn phong phú và xa lạ hơn thế. Người Việt từng dùng phô trước danh từ hoặc đại từ để biểu thị số nhiều, gần với những từ "các", "chúng", "bọn" ngày nay. Ta bắt gặp:
"Phô người học đạo" - những người học đạo. (Chân Nguyên, Thiền tông bản hạnh)
"Phô ngươi" - các ngươi. (Huình Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị)
"Nhắn nhủ phô bay đạo cái con" - nhắn nhủ bọn bay về đạo làm con. (Nguyễn Trãi, Quốc âm thi tập)
"Tôi đã nói ra cùng phô ông" - tôi đã nói với các ông. (Alexandre de Rhodes, Phép giảng tám ngày)
"Bấy nhiêu lời cha đã nói là lời trối sau hết thì phô con phải giữ." (Philiphê Bỉnh, Sách sổ sang chép các việc)
Bên cạnh đó, còn có min, một cách người trên tự xưng với người dưới, tương đương "ta", "tao" trong một số ngữ cảnh. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết: "Này này sự đã quả nhiên/Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi." Hay Tú Xương (1870 - 1907) trong bài thơ Thi cơm rượu cũng viết: "Kể tuổi nhà min ngoại bốn mươi, văn min khấp khểnh, học min lười." (Kể về tuổi tác thì nhà ta đã ngoài bốn mươi, đường văn chương của ta thì khấp khểnh, học thì ta lười).
Lại như qua, cách người chồng tự xưng với vợ, hoặc người lớn tuổi tự xưng với người ít tuổi hơn: "Bậu nói với qua, bậu không lang chạ, vỡ lở ra rồi, đành dạ bậu chưa" (Ca dao); "Dân rằng: Lũ nó còn đây, Qua xem tướng bậu thơ ngây đã đành" (Lục Vân Tiên) v.v.
Một thế giới xưng hô như vậy nếu được phục dựng nguyên vẹn trên màn ảnh hôm nay có lẽ sẽ khiến phần đông khán giả cần... phụ đề tiếng Việt giải thích để hiểu tiếng Việt. Và đó mới chính là bài toán khó của người làm phim cổ phong.
"Giả cổ" khác với "giả Trung Quốc"
Lịch sử rõ ràng không chỉ hiện ra qua phục trang mà còn qua lời ăn tiếng nói. Nhưng làm phim cổ trang không đồng nghĩa với việc phục dựng nguyên xi ngôn ngữ của một thời đại quá vãng.
Nếu toàn bộ nhân vật của một bộ phim lấy bối cảnh thế kỷ XVII nói đúng từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm, hệ thống xưng hô của thế kỷ đó, bộ phim có thể rất thú vị đối với nhà ngôn ngữ học hay người yêu thích lịch sử, nhưng chưa chắc còn là một tác phẩm điện ảnh dành cho công chúng.
Ngôn ngữ lịch sử trên màn ảnh, vì vậy, tất yếu phải là một thứ ngôn ngữ giả cổ. Nhưng "giả cổ" khác với "giả Trung Quốc".
Người viết kịch bản trước hết phải biết người Việt ở thời đại mình đang kể thực sự có thể đã nói như thế nào. Phải biết quan hệ vua - tôi, quan - dân, cha - con, vợ - chồng, anh - em, chủ - tớ được biểu đạt bằng những đại từ nhân xưng nào; biết cùng một con người khi tự xưng trước vua, trước bậc trưởng thượng khác với khi nói với thuộc hạ, với vợ, với con, với bạn bè ra sao. Sau khi biết được những gì là thực tế lịch sử, người viết có quyền lựa chọn, giữ lại bao phần. Có những từ cổ không cần loại bỏ nếu người hiện đại vẫn hiểu được. Có những từ nên phục nguyên để tạo sắc thái thời đại. Có những cách nói quá xa lạ cần được thay thế bằng một hình thức hiện đại hơn nhưng tương đương về quan hệ xã hội và sắc thái biểu cảm v.v.
Nếu chúng ta có thể bỏ rất nhiều công sức nghiên cứu một tấm áo, một chiếc mũ, một thanh gươm để phục dựng diện mạo nhân vật cho chân thực với bối cảnh lịch sử thì chúng ta cũng không nên tiếc công sức nghiên cứu lời ăn tiếng nói của tổ tiên từ cả trăm, ngàn năm trước, thay vì trưng dụng một cách dễ dãi thứ ngôn ngữ cổ phong quen tai từ màn ảnh nước láng giềng.
---
Chú thích:
[1] Dộng: Từ thưa gửi với chúa Trịnh. Từ điển Việt - Bồ - La (1651) giải thích: "Tiếng danh dự mà bất cứ ai bắt đầu thưa với Chúa xứ Đông Kinh. Dộng Chúa muôn năm; Làm khải dộng chúa".
[2] Bản báo cáo "Sứ mệnh của những nhà truyền giáo Dòng Tên tại Nhật Bản, đặc biệt là nhiệm vụ tại Đàng Ngoài" của cha Marini. Dẫn theo Những lữ khách Ý trong hành trình khám phá Việt Nam của Mario Sica (Nhà xuất bản Thế Giới ấn hành năm 2013).
[3] Gia phả họ Ðỗ ở thôn Ðông Ngạc: 杜族家譜 - Đỗ tộc gia phả.
[4] Dẫn theo Tạp chí Hán Nôm số 6 (121)/2013.