Trong nghiên cứu lịch sử thường xuyên xảy ra tình huống như thế này: một nhà nghiên cứu phát hiện một văn bản chứa đựng những thông tin chưa từng được biết đến. Từ văn bản ấy, anh ta nhận thấy một vài sự kiện có thể đã diễn ra khác với cách chúng ta vẫn hình dung trước đây. Anh ta công bố tư liệu, đưa ra giả thuyết để những người khác cùng khảo sát. Tại thời điểm đó, giả thuyết ấy chưa phải một sự thật đã được xác lập, nhưng nó cũng chưa phải thông tin sai. Nó đơn giản là một giả thuyết đang chờ được kiểm chứng một cách đầy đủ thuyết phục.
Tri thức xưa nay vốn luôn phát triển theo cách như vậy. Chứng cứ mới xuất hiện, giả thuyết được đưa ra, người khác phản biện, những chứng cứ khác được bổ sung, và rồi giả thuyết có thể được củng cố, sửa đổi hoặc bị bác bỏ.
Bức tranh gốm mô tả bà Nguyễn Thị Tồn đánh trống đăng văn, kêu oan cho chồng là thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa vào năm 1848. Trống này được vua Minh Mạng cho phép đặt tại khu vực Tam Pháp ty - cơ quan xét xử cao nhất thời bấy giờ - ở kinh thành Huế từ năm 1832. Nguồn: Bảo tàng Đồng Nai
Nói cách khác, lịch sử không phải những câu chuyện với những dữ kiện bất động. Một đạo chiếu được ban hành vào ngày nào có thể xác định được. Nhưng vì sao nó được ban hành, người ban hành thực sự muốn gì, nó tác động thế nào đến xã hội lại là những vấn đề có thể được nhìn nhận khác nhau. Hai nhà nghiên cứu đọc cùng một tập tài liệu, có thể thống nhất về những gì đã xảy ra nhưng bất đồng hoàn toàn về việc vì sao nó xảy ra và nó có ý nghĩa gì. Đó chính là công việc của giới sử học.
Bởi vậy, bên cạnh câu hỏi thông tin "đúng hay sai", người nghiên cứu còn phải trả lời: chứng cứ ủng hộ điều đó mạnh đến đâu, suy luận có hợp lý hay không, có cách giải thích nào khác không? Và quan trọng nhất, điều hôm nay ta tin là đúng, ngày mai có được phép xem xét lại hay không?
Hiện nay không thiếu những câu chuyện lịch sử được dựng lên từ truyền thuyết, suy diễn từ vài hiện vật, sử dụng vài tài liệu không rõ niên đại, nguồn gốc, thậm chí cố tình đảo ngược một câu chuyện quen thuộc để câu view, để phát tiết ẩn ức hiện tại. Đó không phải nghiên cứu thực thụ.
Tuy nhiên, cũng cần nhớ rằng, ở một nghĩa khác, xem xét lại những gì người trước đã viết vốn là công việc bình thường của sử học. Bởi qua cả trăm năm, tư liệu mới được phát hiện, phương pháp nghiên cứu thay đổi, góc nhìn và câu hỏi của người nghiên cứu trong bối cảnh mới, thời đại mới cũng thay đổi. Nếu tất cả những điều đó không làm thay đổi hay bổ sung được nhận thức về quá khứ, nghĩa là sử học không còn thực hiện chức năng nghiên cứu nữa, mà chỉ còn lặp lại những kết luận đã có. Nền sử học như vậy coi như "chết lâm sàng".
Thành ra, ngay trong giới sử học Việt Nam, cách đánh giá về các triều đại hay nhiều nhân vật lịch sử cũng đã thay đổi rất nhiều theo thời gian.
Tượng đài Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải trên đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi). Ảnh: Du lịch Việt Nam
Triều Nguyễn là một ví dụ. Có thời kỳ, trong giới sử học miền Bắc, nhà Nguyễn được nhìn chủ yếu qua những phê phán rất nặng nề: một triều đại phong kiến phản động, bảo thủ, đàn áp các phong trào nông dân, rồi từng bước đầu hàng và để mất nước vào tay thực dân Pháp. Từ thời Đổi mới, đặc biệt từ thập niên 1990 trở lại đây, giới nghiên cứu bắt đầu đánh giá lại nhà Nguyễn trên nhiều phương diện thống nhất và quản lý lãnh thổ, cải cách hành chính, kinh tế, văn hóa, di sản...
Đặc biệt, khi đối diện với vấn đề chủ quyền biển đảo, những tư liệu về hoạt động của hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải cũng như việc các vua Nguyễn xác lập và thực thi chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa lại được nghiên cứu, công bố và nhấn mạnh; qua đó, một phương diện công lao của triều Nguyễn đối với việc xác lập và bảo vệ chủ quyền quốc gia được nhìn nhận rõ hơn.
Những hạn chế và trách nhiệm lịch sử của nhà Nguyễn không vì thế biến mất, nhưng bức tranh đã trở nên đa diện hơn rất nhiều. Điều đó cũng cho thấy, lịch sử được nhìn nhận lại không chỉ vì xuất hiện thêm tư liệu mới; đôi khi chính những vấn đề của hiện tại khiến chúng ta đặt những câu hỏi mới cho quá khứ, và từ đó nhìn thấy ở quá khứ những phương diện mà trước đây ít được lưu tâm.
Tương tự, cách nhìn nhận về Trương Vĩnh Ký cũng cho thấy sự thay đổi trong đánh giá một nhân vật lịch sử. Thời Pháp thuộc, ông từng được đề cao như một nhà bác học, một trí thức lớn, người có công trong việc phổ biến chữ Quốc ngữ và truyền bá tri thức Đông - Tây. Sang một thời kỳ khác, đặc biệt trong sử học cách mạng, mối quan hệ và sự cộng tác của ông với chính quyền Pháp lại trở thành điểm nhìn chủ đạo, khiến Trương Vĩnh Ký có lúc bị đánh giá như một nhân vật phục vụ cho công cuộc xâm lược và cai trị của thực dân. Nhưng nếu đặt ông trở lại đúng hoàn cảnh lịch sử của mình, Trương Vĩnh Ký trước hết là một tín đồ Công giáo, được đào tạo trong môi trường Công giáo và có những gắn bó sâu sắc với cộng đồng đức tin của mình. Vì vậy, không phải mọi lựa chọn và hoạt động của ông trong quan hệ với người Pháp đều có thể giản đơn quy về động cơ "phục vụ thực dân"; trong đó còn có yếu tố tôn giáo, học thuật, hoàn cảnh chính trị và những lựa chọn cá nhân của một trí thức bản xứ sống giữa thời cuộc biến động.
Những nghiên cứu về sau vì thế cho phép nhìn nhận một Trương Vĩnh Ký đa diện hơn: một trí thức uyên bác, có đóng góp quan trọng đối với ngôn ngữ, văn hóa và học thuật Việt Nam, đồng thời cũng là một con người có quan hệ mật thiết với bộ máy thuộc địa và mang những lựa chọn chính trị còn có thể tiếp tục tranh luận. Nghiên cứu lịch sử nhiều khi không khiến chúng ta chuyển từ "kết án" sang "ca ngợi", mà từ một cách nhìn đơn giản sang một cách nhìn đa diện hơn về con người và quá khứ.
Rõ ràng, điều hôm nay được xem là nhận thức thông thường, đôi khi lại là kết quả của những người hôm qua từng đặt câu hỏi khác với nhận thức thông thường của thời họ. Bởi vậy, việc đặt câu hỏi để xem xét lại lịch sử mỗi khi có sự xuất hiện các chứng cứ mới là điều tất yếu trong công việc nghiên cứu lịch sử. Dù những chứng cứ ấy tại từng thời điểm có thể chưa hoàn toàn đầy đủ, thì việc xem xét lại ấy vẫn là cần thiết, và không nên đánh đồng với sự phủ nhận lịch sử một cách vô căn cứ.
Đến đây, nảy sinh một câu hỏi khác, ai có quyền diễn giải quá khứ?
Trong mọi xã hội, quyền kể chuyện lịch sử chưa bao giờ phân bố đồng đều. Nhà nước có hệ thống giáo dục, sách giáo khoa, bảo tàng, tượng đài, ngày lễ, tên đường, các cơ quan nghiên cứu và phương tiện truyền thông. Thông qua những thiết chế ấy, một số cách kể về quá khứ dần trở thành ký ức chung của cộng đồng. Điều ấy tự thân không có gì khó hiểu, bởi một quốc gia luôn cần có ký ức chung.
Nhưng vấn đề xuất hiện khi một cách diễn giải lịch sử không chỉ có ưu thế về thiết chế mà còn được bảo vệ bằng quyền lực pháp lý. Lúc ấy, ranh giới giữa hai việc có thể trở nên rất mong manh - việc bảo vệ xã hội khỏi thông tin sai và việc bảo vệ một nhận thức đã được xác lập khỏi sự chất vấn. Một kết luận lịch sử đáng tin không phải vì người ta không được phép phản bác nó. Nó đáng tin vì sau nhiều lần bị chất vấn, chứng cứ của nó vẫn đứng vững.
Một cộng đồng đương nhiên cần có những câu chuyện chung, niềm tin chung về nguồn gốc, về những người anh hùng, về những chiến thắng, đau thương và những giá trị mà tiền nhân muốn trao truyền lại. Nhưng liệu sự tồn tại của những cách diễn giải khác biệt có nhất thiết làm tan rã các giá trị chung? Tôi không nghĩ vậy.
Một dân tộc không nhất thiết phải tin rằng quá khứ của mình hoàn hảo mới có thể yêu quý quá khứ ấy. Một người anh hùng có thể có giới hạn. Một thời đại huy hoàng vẫn có những mặt tối. Một chiến thắng có thể được nhìn từ phía người chiến thắng, người thất bại và cả những người dân thường bị cuốn vào nó. Lịch sử càng được nghiên cứu kỹ càng không đơn giản.
Bởi vậy, một quy định mới về xử phạt hành chính đối với việc cung cấp, chia sẻ "thông tin chưa kiểm chứng liên quan đến lịch sử, truyền thống cách mạng" [1] khiến tôi khá lưu tâm từ góc độ người nghiên cứu lịch sử.
Tôi cho rằng xã hội có quyền yêu cầu người công bố thông tin phải chịu trách nhiệm. Làm giả tài liệu, bịa đặt sự kiện, cố tình phát tán thông tin sai không thể được che chắn bằng hai chữ "nghiên cứu". Nhưng cũng chính vì vậy, cần phân biệt thật rõ: thông tin giả, thông tin sai, thông tin chưa được xác minh, giả thuyết nghiên cứu, và diễn giải lịch sử. Chúng không phải là một.
Xã hội cần chống lại lịch sử giả nhưng cũng cần bảo vệ khả năng xuất hiện của những nhận thức mới về lịch sử. Bởi có một ranh giới rất nhỏ nhưng vô cùng quan trọng giữa bảo vệ sự thật khỏi sự xuyên tạc và bảo vệ một câu chuyện khỏi mọi sự chất vấn. Một bên giúp tri thức đứng vững, và một bên có thể khiến tri thức đứng yên.
---
Chú thích:
Nghị định số 330/2026/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ Việt Nam. https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2026/8/330_2026_nd-cp_19082026-signed.signed.pdf