![]() |
Ảnh: nongnghiep.vn. |
Mùa hạn nguồn nhân lực
Khác với Đồng bằng sông Hồng là nơi thu hút người lao động trình độ cao từ tứ xứ đến nhập cư, Đồng bằng sông Cửu Long là nơi chứng kiến người lao động rời đi. ĐBSCL là vùng xuất cư cao nhất cả nước với gần một triệu người, tỷ suất di cư của vùng này vẫn thuần âm trong hơn một thập kỉ nay (-3,77‰ năm 2022, dù đã giảm so với -8,4‰ năm 2010). Những người này chủ yếu di chuyển lên Đông Nam Bộ và đại đa số - tới 90% chưa qua đào tạo.
Không phải là do ở lại ĐBSCL, các thanh niên không có cơ hội được đào tạo. Thực tế, chất lượng các chương trình đào tạo nghề ở đây được lượng hóa theo thang của Tổ chức Lao động Thế giới là hơn 400/500 điểm. Điều tra gần đây trên 1.540 người học tại 11/13 tỉnh cho thấy >75% học viên đánh giá học nghề có hiệu quả và thu nhập tăng sau học. Nhưng kể cả các em lựa chọn ở lại quê hương thì sau khi được học hành bài bản, sẽ không lựa chọn ngành nông nghiệp và rồi cũng rời khỏi ĐBSCL. Giới trẻ, đặc biệt là sau kỳ thi THPT Quốc gia, thường có xu hướng lựa chọn các ngành nghề được cho là "hiện đại," "sang trọng" hơn, tập trung ở các thành phố lớn.
Làm nông trong mắt các thanh niên dường như là một lựa chọn "chuột chạy cùng sào". Bởi nếu không làm công nhân ở Đông Nam Bộ, không học tiếp để trở thành dân văn phòng ở thành phố lớn, thì các em còn lựa chọn khác là đi xuất khẩu lao động.
Cuộc tranh luận "Học đại học hay xuất khẩu lao động?" trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Nếu so sánh việc chuyển tiền học cho con hằng tháng với việc "mang tiền về cho mẹ" ngay ở thì hiện tại để gọi là "hiếu" và "hiệu quả đầu tư," thì rõ ràng xuất khẩu lao động có vẻ là một ưu tiên của nhiều gia đình không có nhiều điều kiện kinh tế. Thậm chí, nhiều bạn trẻ có học lực tốt cũng đứng trước áp lực phải lựa chọn con đường kiếm tiền nhanh chóng để phụ giúp gia đình.
Tư duy "học đại học chỉ để nhận tấm bằng," hoặc "ra trường than khó tìm việc, lương thấp" càng củng cố thêm suy nghĩ rằng việc đầu tư 4-6 năm cho đại học là "quá lãng phí" nếu không đảm bảo được đầu ra. Đây là những so sánh "khập khiễng" nhưng phản ánh một thực trạng xã hội mà chúng ta cần thấu hiểu và đồng trách nhiệm.
ĐBSCL ngoài phải đối mặt với những mùa hạn ngày càng khắc nghiệt của tự nhiên, giờ còn phải đối mặt với mùa hạn của nguồn nhân lực. Là vựa lúa, trái cây và thủy sản của cả nước, nơi đây, nông nghiệp đã định hình đời sống và kinh tế qua nhiều thế hệ, song phải chứng kiến những người trẻ "ra đi trước khi học đủ" và "học đủ để rời đi", để rồi thiếu nguồn nhân lực trẻ có kĩ năng, lỡ nhịp chuyển dịch sang nông nghiệp công nghệ cao. Khu vực chịu trách nhiệm cho nền lương thực của cả nước cần một cách tiếp cận khác để thu hút nhân lực và thay đổi diện mạo của ngành nông nghiệp.
Nông nghiệp: Không chỉ là "chân lấm tay bùn" – Một cơ thể sống hữu cơ đang chuyển mình
Khi nhắc đến nông nghiệp, nhiều người, đặc biệt là giới trẻ và phụ huynh, vẫn hình dung về hình ảnh "chân lấm tay bùn," công việc vất vả, phụ thuộc thiên nhiên và thu nhập bấp bênh. Định kiến này, dù có phần đúng trong bối cảnh quá khứ, đang cản trở việc thu hút nhân lực mới và kiềm hãm sự phát triển của ngành.
Thế kỷ 21, nông nghiệp không còn đơn thuần là cày cấy, chăn nuôi truyền thống. Nó đã và đang chuyển mình mạnh mẽ, trở thành một "cơ thể sống hữu cơ" ứng dụng công nghệ và tư duy hiện đại, thậm chí gắn liền với những từ khóa rất thời thượng hiện nay như "dữ liệu lớn", "internet vạn vật", "trí tuệ nhân tạo", "tự động hóa".
Chẳng hạn, các dữ liệu lớn về thổ nhưỡng, thời tiết, dịch bệnh, giá cả thị trường, hành vi tiêu dùng được thu thập từ các thiết bị thông minh sẽ giúp người nông dân đưa ra quyết định tốt hơn về thời điểm gieo trồng, tưới tiêu, thu hoạch, lựa chọn giống cây phù hợp. AI có khả năng phân tích sâu dữ liệu khổng lồ, dự đoán xu hướng dịch bệnh, biến đổi khí hậu, biến động thị trường. AI cũng giúp nhận diện cây trồng bị bệnh, tối ưu hóa lượng phân bón, nước tưới, hoặc thậm chí điều khiển robot gặt hái, phân loại nông sản. AI còn hỗ trợ trong việc phát triển giống cây mới có khả năng chống chịu tốt hơn, nâng cao chất lượng sản phẩm. Máy móc tự động hóa thay thế sức lao động nặng nhọc, giảm thiểu chi phí và tăng hiệu quả. Robot có thể gieo hạt, tưới nước, bón phân, thu hoạch, thậm chí là chăn nuôi tự động, quản lý sức khỏe vật nuôi, biến nông nghiệp thành một quy trình sản xuất công nghiệp chuẩn hóa.
Nông nghiệp hiện đại là sự giao thoa của khoa học cây trồng, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kỹ thuật tự động hóa, kinh tế học, quản lý chuỗi cung ứng và bảo vệ môi trường. Các ngành nghề trong nông nghiệp cũng vô cùng đa dạng: kỹ sư nông nghiệp công nghệ cao, chuyên gia phân tích dữ liệu nông nghiệp, kỹ sư tự động hóa nông nghiệp, nhà quản lý chuỗi cung ứng nông sản, chuyên gia phát triển thị trường nông sản, chuyên gia nông nghiệp du lịch, tư vấn nông nghiệp bền vững, khởi nghiệp trong lĩnh vực thực phẩm công nghệ (foodtech)... Đây là một lĩnh vực đầy tiềm năng để khởi nghiệp và đổi mới, tạo ra giá trị bền vững cho xã hội.
Mặc dù đã bắt đầu có nhiều doanh nghiệp đang đón làn sóng công nghệ cao trong nông nghiệp ở ĐBSCL nhưng để thực sự thay đổi diện mạo ngành nông nghiệp, Việt Nam cần chiến lược đúng đắn, đầu tư mạnh vào hạ tầng số nông nghiệp, chuẩn hóa dữ liệu.
Các nghị quyết của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần được cụ thể hóa trong lĩnh vực nông nghiệp. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nông nghiệp, tích hợp dữ liệu về đất đai, cây trồng, vật nuôi, thị trường, thời tiết... để phục vụ nghiên cứu, sản xuất và hoạch định chính sách. Phát triển các nền tảng công nghệ số giúp nông dân tiếp cận thông tin, kỹ thuật, tín dụng, thị trường một cách dễ dàng. Các trường đại học, viện nghiên cứu cần trở thành trung tâm đổi mới, nơi các công nghệ mới được nghiên cứu, thử nghiệm và chuyển giao cho nông dân. Cần có một thế hệ cán bộ quản lý nông nghiệp "kiến trúc sư số" ở cấp tỉnh, huyện, xã – những người vừa am hiểu nông nghiệp vừa có năng lực tổ chức, thúc đẩy mô hình quản trị hiện đại.
Giáo dục và hướng nghiệp: Ngọn lửa thắp sáng ngành nông nghiệp ĐBSCL
Nếu ngọn lửa khai hoang đã giúp chúng ta có một nền nông nghiệp vững chắc trong quá khứ, thì giáo dục và hướng nghiệp – "ngọn lửa thứ hai" – mới là yếu tố quyết định để thắp sáng tương lai cho ngành này, đặc biệt trong bối cảnh các em học sinh đang đứng trước những lựa chọn lớn. Việc định hướng nghề nghiệp không thể chỉ dừng lại ở việc liệt kê các ngành nghề, mà phải khơi gợi đam mê, chỉ ra con đường phát triển và giá trị đóng góp thực sự.
Việc hướng nghiệp có thể bắt đầu ở giáo dục phổ thông và cần có những chiến dịch truyền thông mạnh mẽ, sinh động, phá bỏ hình ảnh cũ kỹ về nông nghiệp. Chương trình học có thể giới thiệu những mô hình nông nghiệp công nghệ cao, những câu chuyện khởi nghiệp thành công, những kỹ sư nông nghiệp trẻ tuổi đang làm chủ công nghệ, những nông dân 4.0 giàu có và hiện đại. Các trường học, đặc biệt ở ĐBSCL, cần chủ động tổ chức tham quan, trải nghiệm thực tế tại các trang trại thông minh, nhà máy chế biến nông sản hiện đại, khu vực nghiên cứu công nghệ sinh học nông nghiệp để học sinh có cái nhìn chân thực và mới mẻ. Việc này cần được đưa vào chương trình ngoại khóa một cách thường xuyên, không chỉ là những buổi chiếu phim hay diễn thuyết suông.
Bên cạnh đó, công tác hướng nghiệp cần đi sâu vào từng em, giúp các em hiểu rõ bản thân, khám phá các khía cạnh đa dạng của ngành nông nghiệp (từ nghiên cứu, sản xuất, chế biến đến kinh doanh, quản lý chuỗi cung ứng, nông nghiệp du lịch...) để học sinh tìm thấy con đường phù hợp nhất với năng lực và sở thích của mình. Đây cũng là cơ hội để giúp các em nhìn thấy những cơ hội phát triển bền vững, ý nghĩa xã hội của an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh mà nông nghiệp hiện đại mang lại. Thay vì chỉ nói về mức lương khởi điểm, hãy nói về tiềm năng trở thành chủ doanh nghiệp, nhà khoa học, hay người kiến tạo giá trị cho cộng đồng.
Giữa muôn vàn lựa chọn nghề nghiệp, người thầy vẫn là ngọn hải đăng định hướng. Thầy cô cần tự mình cập nhật kiến thức về nông nghiệp hiện đại, xóa bỏ những định kiến cũ và sẵn sàng truyền cảm hứng, kết nối học sinh với thực tiễn. Thầy cô là người giúp học sinh nhận ra giá trị của việc học tập, không chỉ để có bằng cấp mà để phát triển tư duy phản biện, năng lực tự học, tự nghiên nghiêng cứu, tự thích nghi – những điều làm nên sự vững vàng trong bất cứ môi trường nào, dù là tiếp tục học đại học hay lựa chọn một con đường khác. Điều này đòi hỏi các chương trình bồi dưỡng giáo viên, cố vấn hướng nghiệp phải được cập nhật liên tục, giúp họ trở thành những "kiến trúc sư số" trong lĩnh vực hướng nghiệp.
Bản thân các trường đại học cũng phải thay đổi cách đào tạo hấp dẫn, gắn liền giáo dục với thực tiễn và tư duy khởi nghiệp. Chương trình đào tạo không thể chỉ nặng về lý thuyết hàn lâm. Nó cần đi sâu vào thực tiễn sản xuất, nhu cầu thị trường và các vấn đề nóng của nông nghiệp khu vực. Không chỉ truyền đạt kiến thức chuyên môn, mà còn trang bị kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo, kỹ năng quản lý dự án và đặc biệt là tinh thần khởi nghiệp. Khuyến khích các dự án nghiên cứu khoa học, các cuộc thi ý tưởng nông nghiệp "từ hạt giống đến thị trường" để học sinh thỏa sức khám phá, thử nghiệm và đổi mới. Các trường đại học, cao đẳng cần tăng cường các chương trình thực tập, thực tập quản lý (management trainee) tại các doanh nghiệp nông nghiệp lớn, tạo cầu nối vững chắc giữa sinh viên và thị trường lao động.
Việc liên kết chặt chẽ giữa ba nhà: nhà trường, nhà nước, doanh nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để thu hút sinh viên học bất cứ một ngành nghề nào. Doanh nghiệp cần tham gia vào quá trình xây dựng chương trình đào tạo, cung cấp cơ hội thực tập, việc làm cho sinh viên. Họ cũng có thể đóng vai trò cố vấn, chia sẻ kinh nghiệm thực tế. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, ưu đãi rõ ràng và hấp dẫn để thu hút nhân lực chất lượng cao về làm việc trong ngành nông nghiệp, đặc biệt ở các vùng nông thôn, khuyến khích các dự án khởi nghiệp nông nghiệp bền vững. Các chính sách về đất đai, tín dụng ưu đãi, hạ tầng kỹ thuật (internet, điện, nước) ở vùng nông thôn cũng cần được cải thiện để tạo môi trường thuận lợi cho người trẻ về lập nghiệp.
Trong 10–30 năm tới, nông nghiệp Việt Nam sẽ vận hành bằng trang trại tự động, phòng thí nghiệm sinh học ứng dụng, chuỗi cung ứng minh bạch và sản phẩm đạt chuẩn toàn cầu. Quan trọng hơn, đó sẽ là một lĩnh vực nơi người trẻ thấy an toàn, có không gian sáng tạo và được tham gia quyết định.
Bài đăng KH&PT số 1358 (số 34/2025)
Mai Phúc Thịnh
