![]() |
Các sản phẩm được chứng nhận Halal trở nên phổ biến hơn, từ đó làm tăng nhu cầu không chỉ trong xã hội Hồi giáo mà còn cả những người không theo đạo Hồi. Ảnh minh họa |
Vẫn còn hạn chế
Dù là một khái niệm không mấy quen thuộc với người dân Việt Nam - quốc gia chỉ có 0,1% dân số theo đạo Hồi, các sản phẩm Halal thực tế được tiêu thụ bởi 1/4 dân số trên toàn thế giới. Theo quy định của đạo Hồi, những người theo tôn giáo này (khoảng 2 tỷ người) chỉ được phép sử dụng các sản phẩm đạt tiêu chuẩn Halal – tiếng Ả Rập có nghĩa là "được phép", trái với Haram (bị cấm). Ngoài việc không được chứa thịt lợn và rượu - những thành phần bị cấm kỵ trong đạo Hồi, các sản phẩm đạt chuẩn Halal còn phải trải qua rất nhiều tiêu chí vô cùng khắt khe như: động vật phải được một người theo đạo Hồi giám sát và cầu nguyện trong quá trình giết mổ, thịt từ động vật phải được rút hết máu, phải tách riêng dây chuyền sản xuất Halal và Haram, nguồn thức ăn cho chăn nuôi không được chứa các thành phần bị cấm, chuồng trại phải đảm bảo sạch sẽ,...
Với quy mô thị trường ngày càng mở rộng, kinh tế và thương mại Halal đang dần trở thành một lĩnh vực quan trọng trên toàn cầu. Theo dự báo, thị trường thực phẩm và đồ uống Halal toàn cầu sẽ đạt giá trị 875,99 tỷ USD vào năm 2028. Và một trong những yếu tố quan trọng nhất để giúp sản phẩm gia nhập được thị trường Halal là chứng nhận Halal và cơ sở hạ tầng hỗ trợ chứng nhận. Nhãn Halal của một sản phẩm không chỉ quan trọng vì mục đích tôn giáo mà còn là nhãn đảm bảo chất lượng, an toàn và tuân thủ các giá trị đạo đức cho một sản phẩm và phù hợp với xu hướng lối sống nhất định và mang lại giá trị gia tăng cho sản phẩm. Do đó, các sản phẩm được chứng nhận Halal trở nên phổ biến hơn, từ đó làm tăng nhu cầu không chỉ trong xã hội Hồi giáo mà còn cả những người không theo đạo Hồi. Các chính phủ yêu cầu chứng nhận Halal đã thiết lập khuôn khổ pháp lý yêu cầu các doanh nghiệp phải tuân thủ. Theo Báo cáo tổng quan tại hội thảo khoa học quốc tế "Đổi mới sáng tạo, hội nhập và phát triển bền vững" - "Phát triển kinh tế và thương mại Halal của Việt Nam", hiện nay có ba nhóm tiêu chuẩn Halal được áp dụng phổ biến là: tiêu chuẩn Halal của Hội đồng hợp tác vùng vịnh GCC (Gulf Cooperation Council - GCC) áp dụng tại các quốc gia vùng Vịnh (bao gồm sáu quốc gia: Saudi Arabia, UAE, Qatar, Bahrain, Kuwait, Oman) đã được các tổ chức và dịch vụ quốc tế công nhận vào tháng 6/2016; tiêu chuẩn Halal của Cục phát triển Hồi giáo JAKIM Malaysia (Jabatan Kemajuan Islam Malaysia) - cơ quan quản lý Halal của Malaysia - một tiêu chuẩn rất nghiêm ngặt, áp dụng cho tất cả các sản phẩm thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm, và các dịch vụ liên quan. Và cuối cùng là tiêu chuẩn Halal của Cơ quan bảo lãnh sản phẩm Halal BPJPH (Badan Penyelenggara Jaminan Produk Halal) Indonesia bắt đầu vào năm 2001. Tiêu chuẩn Halal của BPJPH được áp dụng cho tất cả các sản phẩm, nhằm đảm bảo tuân thủ các quy định Hồi giáo và là bắt buộc đối với các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm Halal tại Indonesia.
Nhưng trong khi chứng nhận Halal là tấm giấy thông hành để vào được các thị trường khó tính, thì theo nhận định của PGS. TS Lê Phước Minh - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Châu phi và Trung Đông (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), thách thức lớn nhất của Việt Nam lại cũng nằm ở quy trình chứng nhận Halal vẫn còn phức tạp và chưa hài hòa với quốc tế. Số lượng doanh nghiệp Việt Nam đạt chứng nhận Halal đang tăng, song vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường quốc tế. Trong đó, việc thiếu hiểu biết về quy trình và tiêu chuẩn Halal là một trong những rào cản đáng kể đối với nhiều doanh nghiệp.
Theo Ths. Vũ Cẩm Nhung - Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường, nguyên nhân của vấn đề này nằm ở chỗ, việc chứng nhận Halal của Việt Nam vẫn còn hạn chế về mức độ công nhận quốc tế. Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, hiện có gần 1.000 doanh nghiệp Việt Nam được cấp chứng nhận Halal, chủ yếu tập trung tại khu vực phía Nam. Mỗi năm, khoảng 50 doanh nghiệp Việt Nam được cấp chứng nhận Halal cho hơn 20 mặt hàng, bao gồm thủy sản, đồ uống, thực phẩm chế biến, bánh kẹo và thực phẩm chay. Dù một số chứng nhận này được chấp nhận tại các thị trường trọng điểm như Malaysia, Indonesia và Trung Đông, nhưng phần lớn doanh nghiệp Việt vẫn phải nhờ đến các tổ chức chứng nhận Halal quốc tế để đáp ứng tiêu chuẩn nhập khẩu. "Sự thiếu nhất quán trong hệ thống tiêu chuẩn giữa các tổ chức chứng nhận trong nước, sự tham gia hạn chế vào các tổ chức Halal toàn cầu như Hội đồng Halal Thế giới (WHC) và Diễn đàn Công nhận Halal Quốc tế (IHAF), cũng như rào cản về minh bạch và độ tin cậy so với các tổ chức chứng nhận quốc tế lâu đời là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Do việc công nhận quốc tế còn hạn chế, nhiều doanh nghiệp Việt muốn xuất khẩu sang các thị trường Hồi giáo lớn buộc phải tìm đến các tổ chức chứng nhận quốc tế như JAKIM để đảm bảo sản phẩm đáp ứng yêu cầu nhập khẩu, làm tăng chi phí chứng nhận, đặc biệt với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME)", tác giả chỉ ra.
Hiện nay, hệ thống chứng nhận Halal tại Việt Nam vẫn đang trong quá trình phát triển và chưa có một tổ chức chứng nhận Halal quốc gia thống nhất nào được công nhận rộng rãi trên toàn cầu. Cho đến nay, Bộ Khoa học và Công nghệ, các cơ quan tiêu chuẩn chất lượng và các ngành của Việt Nam bắt đầu vào cuộc với sự ra đời của Trung tâm Chứng nhận Halal Quốc gia (HALCERT). "Thái Lan có hẳn các trung tâm nghiên cứu về chứng nhận và kiểm nghiệm tiêu chuẩn chất lượng Halal tại trường đại học hàng đầu để cấp chứng nhận cho các đơn vị. Điều này có nghĩa là ngay cả từ đại học, các cơ quan khoa học kỹ thuật, trung tâm nghiên cứu và trung tâm thử nghiệm, người ta phải vào cuộc thì mới có thể thực hiện được. Ở Việt Nam, chúng ta hiện nay cũng vẫn còn khó khăn về cơ sở hạ tầng và khoa học kỹ thuật, công nghệ, và hệ sinh thái", PGS.TS Lê Phước Minh nhận định tại một hội thảo vào năm 2024.
Cần giải pháp thống nhất
Mặc dù có tiềm năng rất lớn, việc khai thác thị trường Halal của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, các sản phẩm Halal xuất khẩu chủ yếu là nông sản và nguyên liệu thô có giá trị gia tăng thấp. Để khắc phục các hạn chế trên, theo TS. Trần Quang Phú - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia tiên phong ở Đông Nam Á như Malaysia, Indonesia và Thái Lan để xây dựng một hệ sinh thái Halal có hệ thống, hướng tới tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Một trong những giải pháp quan trọng là ban hành tiêu chuẩn Halal theo thông lệ quốc tế. Theo TS. Trần Quang Phú, các quốc gia đi đầu đều xây dựng bộ tiêu chuẩn Halal quốc gia: Malaysia áp dụng tiêu chuẩn MS 1500:2019 được quốc tế công nhận rộng rãi. Indonesia ban hành Luật Halal bắt buộc (năm 2019), yêu cầu tất cả thực phẩm, đồ uống và mỹ phẩm phải được chứng nhận Halal trước khi lưu hành. Thái Lan xây dựng Bộ tiêu chuẩn Halal Thái Lan (TIHAS) và tiêu chuẩn của Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC) để tăng tính tương thích với thị trường quốc tế. "Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) cần xây dựng một bộ tiêu chuẩn Halal thống nhất, được công nhận bởi các tổ chức quốc tế như OIC và Tổ chức Chứng nhận Halal UAE, nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu", TS. Trần Quang Phú nhận định.
Bên cạnh đó, các quốc gia hàng đầu trong ngành Halal đều có chiến lược hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), tham gia thị trường Halal: Malaysia triển khai Chương trình Phát triển Doanh nghiệp Halal SME, cung cấp tài chính, đào tạo và hỗ trợ chứng nhận Halal, Indonesia có các khu công nghiệp Halal giúp doanh nghiệp tiếp cận hạ tầng và nguồn lực sản xuất Halal, hay Thái Lan thành lập Hội đồng Thương mại Halal Thái Lan, kết nối doanh nghiệp với thị trường Hồi giáo. "Việt Nam có thể học hỏi bằng cách hỗ trợ chi phí chứng nhận Halal cho SMEs, xây dựng các khu công nghiệp Halal để thu hút đầu tư, đồng thời kết nối doanh nghiệp với đối tác Hồi giáo thông qua hội nghị, hội chợ thương mại", TS. Trần Quang Phú khuyến nghị.
Bài đăng KH&PT số 1356 (số 32/2025)
Mỹ Hạnh
