Đến thời điểm hiện tại, hầu hết chúng ta đều đã quen thuộc và đồng thuận với định nghĩa của Aristotle: "con người là một sinh vật chính trị, và là một sinh vật chính trị ở mức độ cao hơn loài ong hay các loài thú sống bầy đàn khác"1. Tuy nhiên, điều này dường như không hề làm giảm độ khó cho bất kỳ ai muốn tiếp cận ngành triết học chính trị. Đó chính là lý do ra đời của muôn vàn cuốn sách giáo trình nhập môn triết học chính trị.
Bất chấp những nỗ lực ấy, chúng cũng nhanh chóng trở nên lỗi thời như ví von của Goethe trong tác phẩm nổi tiếng Faust: Mọi lý thuyết đều màu xám, còn cây đời mãi xanh tươi. Bởi lẽ, cùng với sự tiến bộ của nhân loại, nhiều chủ đề chính trị trước đây chỉ nằm bên lề sự quan tâm của các triết gia đã ngày càng trở nên cấp thiết, buộc họ phải nhìn nhận, đánh giá lại một cách thấu đáo, toàn diện. An Introduction to Political Philosophy của J. Wolff cũng không nằm ngoại lệ.
Kể từ khi xuất bản lần đầu vào năm 1996, An Introduction to Political Philosophy đã có những cập nhật, bổ sung, điều chỉnh qua các phiên bản 2006, 2016 và gần nhất là 2022. Trong đó, ấn bản lần thứ tư (2022) được tác giả nhìn nhận là "phá quy luật xuất bản" 10 năm/lần của ông vì... "Thời gian dường như trôi rất nhanh, không chỉ trong chính trị và thời cuộc, mà còn trong làn sóng ngày càng mạnh mẽ kêu gọi suy nghĩ lại cách chúng ta nghiên cứu triết học chính trị: Ai và điều gì đang và nên được nghiên cứu"2.
Những trăn trở và suy nghiệm mới về triết học chính trị đã thôi thúc J. Wolff bổ sung nhiều nội dung xuyên suốt các chương sách, dù theo ông: "Nếu bây giờ phải viết lại từ đầu, tôi chắc cuốn sách sẽ rất khác"3. Chính những cập nhật mạnh mẽ trong lần xuất bản thứ tư đã giúp An Introduction to Political Philosophy tiếp tục trở thành cuốn sách quan trọng với bất kỳ ai bắt đầu nghiên cứu triết học chính trị đương đại.
Ấn bản này của cuốn sách được hai dịch giả Nguyễn Tuệ Anh và Nguyễn Hoàng Phúc lựa chọn, chuyển ngữ dưới nhan đề Nhập môn triết học chính trị.

Ấn bản lần thứ tư của An Introduction to Political Philosophy đã được dịch sang tiếng Việt dưới nhan đề Nhập môn triết học chính trị. Nguồn: CC
Khác với những tác phẩm nhập môn triết học chính trị thông thường, Jonathan Wolff không bắt đầu công trình của ông bằng cách giới thiệu các khái niệm, thuật ngữ hay một triết gia vĩ đại. Thay vì thế, ông đi vào một vấn đề mà dường như sau Aristotle, nhân loại rất ít chú tâm kiến giải – trạng thái tự nhiên. Bởi lẽ, hầu khắp các nhà nghiên cứu đều đồng thuận với triết gia Hy Lạp ở nhận định "con người là một động vật mà do bản tính tự nhiên phải sống trong một nhà nước". Hoặc, họ cho rằng sẽ rất mất thời gian để tìm hiểu, tường thuật, phân tích về việc con người đã chuyển từ trạng thái tự nhiên đến thành lập nhà nước đầu tiên trong lịch sử nhân loại như thế nào.
Cho dù vậy, theo J. Wolff, có một số triết gia vĩ đại như Thomas Hobbes, John Locked đã cố gắng lý giải vì sao con người cần có nhà nước, thay vì một trạng thái tự nhiên. Đối với T. Hobbes, một triết gia bi quan, trạng thái không nhà nước chẳng khác nào một thảm họa diệt vong vì nơi đó không tồn tại công lý hay bất công, không có đúng, không có sai. Trái lại, J. Locked cho rằng ngay trong trạng thái ấy, con người vẫn có những "luật tự nhiên" cho phép họ hành xử một cách có đạo đức. Theo J. Wolff, các triết gia bao gồm T. Hobbes và J. Locked đều đi đến điểm chung rằng cần phải có nhà nước để thiết lập và thực thi công lý. Nhưng rõ ràng, sự ra đời và phát triển của các mô hình nhà nước qua hàng nghìn năm có vẻ như chưa thể giải quyết những vấn đề nan giải mà con người hằng đeo đuổi mà nổi bật là các quyền tự do, dân chủ, bình đẳng hay thực thi công lý.
Cứ như vậy, trong sáu chương sách, J. Wolff lần lượt chất vấn các triết gia mà ta đã quen thuộc trong lịch sử: từ Plato, Jean-Jacques Rousseau, John Stuart Mill đến Karl Marx và sau cùng là các triết gia đương đại. Trong đó, một phần lớn trọng tâm của Nhập môn triết học chính trị là những câu hỏi dành cho J. S. Mill, tác giả của những trước tác Bàn về tự do, Chính thể đại diện... người đặt nền móng cho các thuyết về chủ nghĩa vị lợi, tự do ngôn luận và nhiều quyền cơ bản khác của con người ngày nay.
Qua cách đặt vấn đề như vậy, J. Wolff đã cố gắng diễn giải triết học chính trị như một diễn tiến liền mạch, nơi các triết gia tìm cách bổ sung những điểm còn thiếu, chưa hoàn thiện trong mô hình nhà nước, chế độ dân chủ, quyền của các nhóm yếu thế cho đến các vấn đề toàn cầu đặt ra sự đồng thuận, cùng nhau đi tìm hướng đi chung giữa các nhà nước (Chương 6: Công lý cho mọi người, ở mọi nơi).
Trên chặng đường này, có vô số lý thuyết tưởng chừng khả thi, hữu dụng nhưng đã lỗi thời, không được áp dụng ngay từ thời điểm nó ra đời mà điển hình là mô hình nhà nước độc tài, phản đối dân chủ của Plato.
Bên cạnh đó, cũng tồn tại nhiều tác phẩm ngỡ như chân lý cho loài người về tự do, dân chủ nhưng thực chất thứ công lý, pháp luật ấy chỉ áp dụng cho thiểu số mà tác giả nhận định là xứng đáng được hưởng lợi từ chúng – thuyết tự do của J. S. Mill là minh chứng sống động nhất.
J. Wolff nhận ra phải đến giai đoạn gần đây, công lý mà các tác phẩm triết học chính trị đề cập mới bắt đầu được áp dụng bình đẳng giữa nam giới và nữ giới. Ở nhiều quốc gia, những người thuộc các cộng đồng LGBT, người mang sắc tộc thiểu số vẫn phải đối mặt với những bất công thường trực. Và ngay cả khi có công cụ pháp luật bảo đảm quyền con người, công lý đó không phải lúc nào cũng được xã hội áp dụng. Đó là điều J. Wolff lưu ý khi dẫn lại quan điểm của K. Marx cũng như các nhà hoạt động về quyền của các nhóm yếu thế. Dù vậy, J. Wolff đặt niềm tin rằng triết học chính trị vẫn đang có những bước tiến bộ vì sự cố gắng truy tìm và lý giải những vấn đề chưa ngã ngũ trong đời sống nhân loại, điều làm nên sức hấp dẫn của khoa học này suốt hơn 2.500 năm qua.
Trong phạm vi của một cuốn sách dẫn nhập, những chủ đề mà J. Wolff chọn lọc, theo cách nói của ông, là "đột kích" từ kho tàng triết học chính trị, trên thực tế đều là những vấn đề rất lớn, đáng suy ngẫm. Đồng nghĩa, đây không phải cuốn sách dẫn nhập dành cho mọi đối tượng người đọc, mà đòi hỏi độc giả chí ít cần có kiến thức căn bản về triết học phương Tây. Bởi lẽ, tác giả thường xuyên có sự lật giở từ hiện đại về quá khứ, từ xưa đến nay để đối sánh, đi xuyên các trường phái triết học; từ đó bóc tách, phản biện các quan điểm.
Một điểm đáng tiếc của cuốn sách là dường như J. Wolff chỉ dừng lại ở việc giới thiệu các tác giả và học thuyết triết học chính trị ở phương Tây, thay vì mở rộng sang các khu vực khác trên thế giới, nhất là với những vấn đề triết học đương đại. Điều này biến Nhập môn triết học chính trị giống với một chuyên luận sâu sắc về sự phát triển của mô hình nhà nước, hình thái dân chủ và quyền tự do, bình đẳng trong xã hội phương Tây, hơn là một cuốn sách dẫn nhập thường thức như nhan đề của nó. Phải chăng vì điều này mà tác giả từng nuối tiếc rằng ông sẽ viết cuốn sách theo một cách hoàn toàn khác nếu đặt bút vào thời điểm hiện tại?
(1) (4) Aristotle: Chính trị luận, Nxb Thế giới, H.2013, tr.47.
(2) Jonathan Wolff: Nhập môn triết học chính trị (Nguyễn Tuệ Anh và Nguyễn Hoàng Phúc dịch), Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội, H.2025, tr. V.
(3) Jonathan Wolff: Sdd, Lời tựa cho ấn bản lần thứ tư.
Bài đăng KH&PT số 1361 (số 37/2025)
Hải Triều