Trước khi trở thành nhà sử học, D. Marr từng là sĩ quan quân báo Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ và trực tiếp tham chiến tại Việt Nam giai đoạn 1962-1963. Thời điểm đó, ông đã ấn tượng sâu sắc về tinh thần đấu tranh ngoan cường, thống nhất giữa ý chí và hành động trong các đơn vị của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đối với D. Marr, truyền thống quốc gia mạnh mẽ, chủ nghĩa bài thực dân dường như chưa đủ lý giải nguồn cơn cho thứ sức mạnh tinh thần của những người cộng sản.
Càng đi sâu nghiên cứu, D. Marr càng bất ngờ trước những dữ liệu lịch sử. Năm 1938, chỉ có 27.000 lính thuộc địa đã có thể kiểm soát được ít nhất 18 triệu người Việt Nam nhưng chưa đầy 16 năm sau, các lực lượng thuộc địa Pháp lên tới 450.000 vẫn không thể tránh khỏi thảm bại chiến thuật tại Điện Biên Phủ. Đáng chú ý, sự chuyển biến trong tinh thần của người Việt Nam không dừng lại ở khía cạnh lòng yêu nước, tinh thần tự tôn, tự lập, tự cường mà còn là những nhận thức mới về quyền bình đẳng giữa người Việt và thực dân Pháp, giữa nam và nữ, sự thay đổi trong quan điểm về văn hóa, văn học, nghệ thuật. Tất cả phát hiện ấy khiến D.Marr liên tục phải dời mốc thời gian nghiên cứu. Cuối cùng, ông lựa chọn thời kỳ 1920-1945 là những năm tháng quyết định đến sự định hình trong tư tưởng, nhận thức của người Việt Nam hiện đại.
Dẫu vậy, trong tác phẩm Truyền thống Việt Nam qua thử thách 1920-1945 (Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945), D. Marr đã thẳng thắn đánh giá chặng thời gian mà ông tập trung nghiên cứu chỉ là những cột mốc tương đối. Vì nhiều nguyên do khác nhau, tác giả bắt buộc phải lùi về quá khứ để truy nguyên tường tận bản chất của nhiều truyền thống từng đồng hành cùng người Việt Nam hàng thế kỷ bỗng chốc bị nghi ngờ rồi sụp đổ chỉ trong khoảng thời gian ngắn. Phần lớn trong số chúng là những quan niệm đạo đức gắn với học thuyết Nho giáo mà nổi bật là tinh thần trung quân, ái quốc. Ông ấn tượng trước những dòng viết của Trần Huy Liệu: "đọc lại cái lịch sử mấy ngàn năm về trước, chỉ thấy những người bầy tôi trung với vua, chớ chưa thấy người dân trung với nước bao giờ, đó là tại luân lý sai lầm, vì luân lý sai lầm mà chôn sống biết bao người dân trung với nước, vì luân lý sai lầm mà gây cho quốc dân một lũ tôi mọi chỉ biết trung với vua"1. Thực dân Pháp tự cho mình sứ mệnh khai hóa, truyền bá văn minh hóa ra lại là tìm mọi cách để ngăn chặn người Việt nhận thức đúng đắn về lòng yêu nước.
Trong những trang mở đầu tác phẩm, D. Marr đã tường thuật lại chi tiết vụ án Phan Bội Châu như minh chứng rõ ràng nhất về thủ đoạn của người Pháp nhằm đánh gục ý chí yêu nước của nhà cách mạng già nua và bệnh tật khi họ sẵn sàng vu khống ông chống chế độ vì đã hỏng (trường nhì) kỳ thi hội (tháng 3) năm 1904 và tìm kiếm sự "vinh thân tề gia". Không chỉ đàn áp người Việt bằng những cuộc khủng bố như vậy, người Pháp cũng thực thi một chính sách ngu dân phức tạp.
Theo những sự kiện được D. Marr ghi lại và phân tích trong công trình khảo cứu, Pháp chỉ thực sự quan tâm phát triển hệ thống giáo dục, báo chí thuộc địa khi bắt đầu nhận ra sự nguy hiểm từ việc các du học sinh Việt Nam tại "mẫu quốc" như Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh tiếp nhận được những tư tưởng tiến bộ: tự do, bình đẳng, bác ái. Xây dựng chính sách "ngu dân" ở thuộc địa, kìm kẹp tư tưởng những người mang thân phận nô lệ trong khối mâu thuẫn, hổ lốn giữa quá khứ và hiện đại là cách thức đã được người Pháp sử dụng triệt để. Thông qua hợp tác với Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, người Pháp cố tạo ra những huyễn tưởng về tinh thần Pháp - Việt đề huề, xoa dịu những mâu thuẫn, xung đột âm ỉ đang tồn tại trong lòng thuộc địa. Người Pháp cũng tìm đủ lý do để vu cáo, thổi phồng sự nguy hại của những đối thủ khi đó mới chỉ tồn tại ở dạng mầm mống, không liên kết - những người có cảm tình với chủ nghĩa Marx, những đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, phái Trostky, trí thức yêu nước. Mục đích sau cùng của người Pháp không gì khác là hình thành những cỗ máy tuân phục, mang tinh thần yếu đuối, bạc nhược.
![]() |
Vietnamese Tradition on Trial, 1920-1945 của David Marr được xuất bản lần đầu vào năm 1981. Trong ảnh: Ấn bản tiếng Việt được phát hành mới đây. Tác giả: Mai Phương |
Tuy nhiên, toan tính của người Pháp liên tục thất bại vì sự thiếu nhất quán trong chính sách và quan trọng hơn cả, như D. Marr chứng minh, chính là tinh thần bất tuân phục cùng khả năng thích nghi, chuyển đổi trạng thái nhanh chóng trong đội ngũ trí thức người Việt. Việc người Pháp sử dụng chiêu bài phát hành các tạp chí "dạy" phụ nữ về tam tòng, tứ đức, hóa ra lại tạo cơ hội cho sự phát triển của những tờ báo mang khuynh hướng tự do như Phụ nữ Tân văn với những ngòi bút sắc sảo như Phan Khôi, Nguyễn Thị Kiêm, Đào Trinh Nhất. Việc một số tờ báo bảo thủ do người Pháp dựng nên đổ tất cả "tội lỗi" của các quan điểm văn minh, cách mạng cho cộng sản rốt cuộc đã khiến các phong trào yêu nước, ban đầu không liên kết, xích lại bên nhau mà hạt nhân chính trị là Đảng Cộng sản Đông Dương. Bản thân những cá nhân từng hợp tác chặt chẽ với Pháp như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh cũng nảy sinh nhận thức mới, vượt ra khỏi tầm kiểm soát của Pháp.
Người Pháp cũng gặp rắc rối với những tôn giáo nội sinh, nảy nở trong lòng xứ thuộc địa mà ban đầu họ khá xem thường như Cao Đài và Hòa Hảo. Đặc biệt, những người cộng sản Việt Nam đã tận dụng triệt để sự lớn mạnh của phong trào cánh tả tại Pháp giai đoạn 1936-1939 để gây dựng lực lượng của mình mà điểm cốt yếu là bồi dưỡng về mặt văn hóa, tư tưởng.
Trong 10 chương sách, D. Marr không chủ ý tạo ra sự liên kết nhưng tác phẩm vẫn đi đến điểm thống nhất là thành công của Đảng Cộng sản Đông Dương trong việc điều hòa các giá trị truyền thống và hiện đại đã tạo nên một sức mạnh khổng lồ đủ để đánh bại hoàn toàn chế độ thực dân và những người hợp tác.
Trong tiến trình đó, không phải lúc nào người cộng sản cũng thành công. Những cuộc khủng bố của thực dân Pháp cùng sai lầm trong đánh giá tương quan lực lượng, đường lối đấu tranh đã khiến người cộng sản không ít lần rơi vào tình thế hiểm nghèo. Nhưng điểm mấu chốt giúp họ luôn vượt qua những hoàn cảnh khó khăn nhất, theo D. Marr, là sự thích nghi, chuyển trạng thái nhanh chóng của Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngay cả trong lao tù, các chiến sĩ cộng sản vẫn nhìn nhận rằng đây là cơ hội để họ học tập, xây dựng và phát triển phong trào khi có riêng một hệ thống thông tin, báo chí, liên lạc dù thô sơ nhưng vô cùng hiệu quả. Người cộng sản dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh đã nắm bắt, chắt chiu từng cơ hội, dù là nhỏ bé nhất giữa vòng xoáy của các đối thủ để giành được nền độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam.
Như đã trình bày, Truyền thống Việt Nam qua thử thách 1920-1945 là một cuốn sách đồ sộ, hàm chứa nhiều chủ đề đủ sức tạo ra những công trình riêng, lẻ có giá trị cao về học thuật. Luận đề chính của tác giả chỉ là giải đáp câu hỏi "không ai có thể giải thích được bằng cách nào, chỉ mấy năm sau, hàng trăm ngàn người Việt Nam đang có vẻ là thần dân ngoan ngoãn của thực dân Pháp lại trở thành các cán bộ chính trị giàu kinh nghiệm, trở thành những người lính, chuyên gia..."2. Nhưng cuốn sách đã đi xa hơn thế khi phác họa cả một diễn tiến lịch sử tư tưởng Việt Nam giai đoạn 1920-1945. Tất nhiên, cuốn sách không khỏi có những hạn chế khi không tìm được điểm cân bằng giữa các đối tượng nghiên cứu. D. Marr chỉ trình bày một cách sơ lược, thậm chí bỏ qua một số tác phẩm, nhân vật quan trọng trong giai đoạn 1920-1945 trong khi dành nhiều thời gian phân tích những tác phẩm, hồi ký được công bố trong giai đoạn 1960, 1970. Chương 5 của cuốn sách "Vấn đề phụ nữ" xứng đáng là một tác phẩm độc lập, nhưng lại khá lạc lõng trong tổng thể chung. Dù vậy, đây vẫn là một tác phẩm có giá trị đặc biệt, không chỉ dành cho học giả quốc tế muốn tìm hiểu về Việt Nam mà còn cho chính những người Việt Nam chúng ta.
-------
1Trần Huy Liệu: Một bầu tâm sự (Sài Gòn, 1927), tr.13 (Chú thích của David G. Marr)
2 David G. Marr: Truyền thống Việt Nam qua thử thách 1920-1945, Nxb. Thế giới, h.2025, tr.19-20
Bài đăng KH&PT số 1357 (số 33/2025)
Hải Triều
