Theo một nghiên cứu thực hiện năm 2019 tại Việt Nam, khoảng 63% phụ nữ đã kết hôn từng trải qua ít nhất một hình thức bạo lực gia đình. Bạo lực gia đình không chỉ xảy ra giữa vợ- chồng mà còn ở giữa cha mẹ và con cái. Theo Tổng cục Thống kê và UNICEF vào năm 2015, có hơn 68% trẻ em trong độ tuổi từ 1- 14 từng bị kỷ luật bằng bạo lực từ cha mẹ hoặc người chăm sóc ít nhất một lần. Đến năm 2021, con số này tăng lên hơn 72%. Ngoài ra, gần 10% người chăm sóc - đặc biệt là những người không có trình độ học vấn hoặc thuộc nhóm nghèo nhất - ủng hộ việc sử dụng trừng phạt thể chất đối với trẻ.
Tuy vậy, nhận thức về bạo lực gia đình trong cộng đồng vẫn còn nhiều giới hạn do ảnh hưởng từ những niềm tin văn hóa, chẳng hạn như "dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về", "yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi"... Trong bối cảnh đó, một nhóm nhà khoa học đến từ Trường Đại học Fulbright (Việt Nam) đã phối hợp với các nhà nghiên cứu đến từ Đại học Minnesota và Đại học Ohio (Mỹ) thực hiện nghiên cứu nhằm xác định nhận thức sinh viên đại học Việt Nam về bạo lực gia đình.
Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát online với 81 sinh viên về nhận thức hành vi bạo lực gia đình, thái độ của các sinh viên với bạo lực gia đình và những trải nghiệm cá nhân của họ.
![]() |
Nhiều sinh viên nhận thức được bạo lực gia đình nhưng vẫn im lặng. Ảnh minh hoạ: istock |
Kết quả cho thấy, 100% người tham gia đã từng nghe đến cụm từ "bạo lực gia đình", phần lớn (92%) là qua truyền hình. Tỷ lệ người nghe đến cụm từ này qua môi trường làm việc là ít nhất (21%). Ba hình thức bạo lực gia đình phổ biến nhất do người tham gia khảo sát báo cáo rằng họ nhận thức được là đánh đập, đẩy, đá, giật tóc, tát; cố ý giết người; chế giễu, xúc phạm, làm nhục với tỷ lệ lần lượt là 100%, 90% và 90%.
Trong nhóm bạo lực thể chất, chỉ hơn 43% xem việc bắt làm việc quá sức là một hình thức bạo lực gia đình; trong khi 100% cho rằng đánh đập, đẩy, đá, giật tóc và tát là bạo lực gia đình.
Với các hành vi thuộc bạo lực tâm lý và cảm xúc, tỷ lệ người tham gia cho rằng chế giễu, xúc phạm và làm nhục là bạo lực gia đình cao nhất (hơn 90%); trong khi chỉ gần 46% cho rằng thờ ơ hoặc không giao tiếp là một hình thức bạo lực gia đình.
Về bạo lực tình dục, tất cả người tham gia đều cho rằng ép buộc mại dâm và cưỡng ép quan hệ tình dục với các thành viên khác trong gia đình là bạo lực gia đình, trong khi 18,3% cho rằng việc bị ép buộc quan hệ tình dục bởi vợ/chồng không phải là bạo lực gia đình.
Ba nguyên nhân bạo lực gia đình được nhận thức phổ biến nhất là nghiện rượu (92,6%), nghiện ma túy (92,6%), và nghèo đói hoặc bị gạt ra ngoài xã hội (90,1%). Hơn 64% người tham gia cho rằng bạo lực gia đình là không thể chấp nhận và nên luôn bị xử lý theo pháp luật. Số còn lại cho rằng bạo lực gia đình là không thể chấp nhận nhưng không phải lúc nào cũng nên bị xử lý theo pháp luật, ngoại trừ một người cho rằng có thể chấp nhận trong một số trường hợp.
Có 22% người tham gia báo cáo đã từng trải qua bạo lực gia đình. Trong số đó, 70% báo cáo đã từng bị bạo lực tâm lý, 60% bị bạo lực thể chất, và 10% từng bị đe dọa bạo lực hoặc hạn chế tự do. Không có ai báo cáo từng bị bạo lực tình dục, tuy nhiên nhóm nghiên cứu cũng lưu ý con số này có thể do những người tham gia cảm thấy không thoải mái để chia sẻ .
Hơn 66% trong số những người từng bị bạo lực gia đình cho biết họ không làm gì sau khi bạo lực gia đình xảy ra và chỉ hơn 11% từng tìm đến cảnh sát để được giúp đỡ. Dù khoảng một nửa người tham gia cho biết thủ phạm, hoặc nạn nhân của bạo lực gia đình trong số những người xung quanh mình, nhưng chỉ có hai người từng báo ra bên ngoài để giúp giải quyết vụ việc.
Dù số mẫu vẫn còn hạn chế và chưa đi sâu vào sự khác biệt trong nhận thức của các nhóm sinh viên, của những người từng trải qua và chưa từng trải qua bạo lực gia đình..., nghiên cứu đã cung cấp những hiểu biết ban đầu về nhận thức bạo lực gia đình hiện nay và có thể trở thành tham chiếu cho các nghiên cứu khác trong tương lai.
Nguồn:
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2666560324000392
Diễm Quỳnh
