Liệu có đúng là những giáo điều của Nho giáo chèn ép, cản trở sự phát triển của khoa học tự nhiên và công nghệ? Hãy cùng soi chiếu qua lăng kính của hai trường phái Nho học chủ lưu ở Á Đông thời trung đại là Lý học Chu Hy và Tâm học Vương Dương Minh, cùng những dẫn chứng về ảnh hưởng của hai học phái này trong chính sử Việt Nam để tỏ tường vấn đề.
Cuốn sách Science and Civilization in China (1956) của Joseph Needham và Wang Ling phân tích sâu về sự hình thành và phát triển các quan niệm khoa học Trung Hoa cổ đại, nêu những đóng góp lý thuyết và thực hành trong toán học, thiên văn và triết học tự nhiên. Ảnh: Inference Review.
Lý học Chu Hy ở Trung Hoa
Chu Hy - Chu Tử thời nhà Tống (1130-1200) tuy là nhân vật nổi trội nhất nhưng trước ông đã có nhiều tiền bối trong phong trào chấn hưng Nho giáo mà có lẽ bắt đầu bởi Hàn Dũ (768-824) đời Đường và được tiếp nối bởi những học giả tiêu biểu như Chu Đôn Di (1017-1073), Trương Tái (1020-1077), Trình Hạo (1032-1085), Trình Di (1033-1108).
Trước thời Đường, Nho học trong suốt một thời gian dài thường bị hiểu lầm là chỉ quan tâm đến các vấn đề xã hội và đời sống thế tục, mà xem nhẹ chiều sâu tư tưởng triết học. Giới Nho sĩ khi ấy có xu hướng đề cao thơ phú hơn việc nghiên cứu kinh điển, đồng thời chịu ảnh hưởng của những trào lưu từ các tôn giáo khác như bàn luận về Huyền học, Phật giáo và Dịch học.
Trong bối cảnh ấy, để chấn hưng Nho giáo thành một tư tưởng thống trị, các nhà Nho vừa công kích sự dị đoan của Phật, Lão, vừa kết hợp những yếu tố vũ trụ quan siêu hình vào học thuyết Khổng-Mạnh, bên cạnh những vấn đề nhân sinh quan mang nặng tính luân lý và đạo đức [1].
Cụ thể, Chu Đôn Di đã kết hợp Đạo giáo và Nho giáo, Đạo Đức Kinh và Dịch Kinh bằng mô hình: "Vô cực (khái niệm trong Đạo Đức kinh) nhi Thái cực (khái niệm trong Dịch kinh), Thái cực sinh lưỡng nghi (âm-dương)..." [2]. Kế đến, Trình Hạo và Trình Di bàn về khái niệm Lý 理 (nghĩa lý, đạo lý, trật tự...) và Trương Tái bàn về khái niệm Khí 氣 (vật chất, sự vật, năng lượng...). Cuối cùng, Chu Hy là người đã tập đại thành (tập hợp) các phái này thành một: phái Lý học [1].
Lý học Chu Hy đã trở thành chủ lưu lớn nhất trong thế giới Nho học Á Đông, bao gồm Đại Việt, suốt nhiều thế kỷ sau.
Bài viết này sẽ không đi sâu vào khái niệm Lý là gì, Khí là gì, mà sẽ tìm hiểu thái độ mà các nhà Nho phái Lý học dành cho chúng, tức là những chủ đề về thế giới tự nhiên nói chung.
Trong sách Đại Học - một trong bốn tác phẩm kinh điển của Nho học Trung Hoa (gọi là Tứ Thư) do Chu Hy lựa chọn - có đoạn nổi tiếng mà nhiều độc giả đã nằm lòng: "Người xưa muốn làm sáng tỏ đức sáng của mình ra thiên hạ thì trước hết phải trị quốc; muốn trị quốc thì trước phải tề gia; muốn tề gia thì trước phải tu thân."
Tuy nhiên đoạn sau mà số đông ít biết đến cũng quan trọng không kém: "muốn tu thân thì trước phải chính tâm; muốn chính tâm thì trước phải thành ý; muốn thành ý thì trước phải đạt đến tri thức, mà đạt đến tri thức thì phải nhờ ở chỗ cách vật".
Nghĩa là "cách vật" được coi là khởi nguồn của mọi công phu tu dưỡng. Cách vật (格物) ở đây có thể hiểu là tìm tòi, phân tích, nghiên cứu một vật. Trong thế kỷ XIX, người Nhật Bản đã dùng "cách vật" để dịch khái niệm "Science" của phương Tây.
Các triết lý của Nho giáo về hành trình hoàn thiện từ bản thân đến gia đình, quốc gia và thế giới. Thiết kế: Ngô Hà.
Trong Tứ Thư chương cú tập chú (四書章句集註), Chu Hy viết: "Chỉ vì đối với lý còn có chỗ chưa cùng kiệt, cho nên tri thức còn có chỗ chưa hiểu hết. Vì vậy, việc dạy học của Đại Học, ắt phải khiến người học đối với hết thảy mọi sự vật trong thiên hạ, không gì là không dựa vào lý đã biết mà tiếp tục cùng kiệt thêm, để tìm đến chỗ cùng cực của nó. Đến khi dụng công đã lâu, bỗng một ngày khai thông thấu suốt, thì trong và ngoài, tinh và thô của muôn vật, không gì là không đến được, mà toàn thể và đại dụng của tâm ta, không gì là không sáng tỏ. Đây gọi là vật cách. Đây gọi là tri thức đến tận cùng." [3]
Có thể thấy, tư tưởng phái Chu Hy: (1) không coi nhẹ sự vật tự nhiên, mà ngược lại, đòi hỏi người học không bỏ qua việc tìm hiểu bất cứ sự vật nào trong thiên hạ; (2) mọi sự vật trong thiên hạ đều chứa đựng lý; (3) lý này có thể tìm hiểu được, và hiểu biết có thể tích lũy để tạo ra đột phá về hiểu biết.
Joseph Needham nhận xét: "không nghi ngờ rằng thế giới quan Tống Nho cực kỳ tương đồng với thế giới quan của các khoa học tự nhiên. Vì vậy, ở đây một lần nữa cần nhấn mạnh rằng giai đoạn này (triều Tống) chính xác là giai đoạn chứng kiến sự nở rộ vĩ đại nhất của khoa học bản địa Trung Hoa.
"Nếu điểm qua những tên tuổi khoa học lớn của giai đoạn này, người đầu tiên ta gặp là Thẩm Quát (1030–1093), trong sách ông có ghi chép đầu tiên được xác định rõ ngày tháng về la bàn từ tính, mô tả đầu tiên về cách làm bản đồ địa hình nổi, cùng nhiều mô tả về hóa thạch với nhận thức đúng về bản chất của chúng, bên cạnh nhiều đóng góp khoa học có giá trị khác.
"Trong toán học có nhiều tên tuổi: Lưu Ích (khoảng 1075), Lý Diệp (1178–1265), Tần Cửu Thiều (khoảng 1244–1258) và Dương Huy (khoảng 1261–1275). Đây là những người phát triển đại số Tống, tạo thành trường phái toán học tiên tiến nhất thế giới vào thời điểm đó.
"Trong thiên văn học có Tô Tụng (1020–1101), với cuốn sách minh họa công phu về hỗn thiên nghi còn được lưu giữ đến nay. Trong địa lý và bản đồ học, giai đoạn mở đầu với Giả Đam (730–805) và kết thúc với Chu Tư Bản (1273–1320): cả hai đều thuộc hàng nhà địa lý vĩ đại". [2]
Ảnh hưởng Lý học Chu Hy ở Việt Nam
Trường phái cách tân Nho giáo này ảnh hưởng mạnh mẽ lên tầng lớp tinh anh nước ta thời Trần và Lê Sơ, có thể là từ thời Lý nữa. Những bậc "đại Nho" như Trương Hán Siêu, Lê Thánh Tông sáng tác văn bia, văn xuôi... để đả phá sự dị đoan trong Phật, Lão, thượng tôn Nho giáo.
Đáng chú ý, Đại Việt sử ký toàn thư khen ngợi Lê Thánh Tông "Lý học của hoàng đế rất sáng tỏ uyên bác, trong chỗ hỗn nhiên mà phân biệt rất rõ ràng, rất tinh vi hàm súc, thể hiện ra ở lời thơ, không phải người học vấn tầm thường có thể mong mà theo kịp được. Vua lại nói về thiên văn học, chỉ ra rằng sự vận hành của Nhị thập bát tú và Ngũ tinh đều có xâm phạm tới nhau. Nếu sao nọ phạm vào sao nào đó thì ứng với một việc nào đó. Xem thế, có thể thấy được đôi nét về tầm học rộng hiểu sâu của vua".
Ngược lên thời Trần, chúng ta thấy Lê Tắc trong An Nam chí lược nói về hóa thạch và phỏng đoán phương thức hóa thạch được tạo ra, gợi nhớ đến Mộng Khê bút đàm của Thẩm Quát: "Núi Biện ngoài biển, xưa có những loài chết bất thình lình, vỏ và xương vẫn còn nối nhau trên các hang đá". Đảo di chí lược của Uông Đại Uyên kể rằng học sinh thời Trần: "mười lăm tuổi vào (sách) Đại Học, tụng thơ đọc sách, bàn Lý Tính".
Hai trang đầu tiên trong cuốn Vân đài loại ngữ (芸臺類語) do học giả Lê Quý Đôn biên soạn năm 1773. Ảnh: CC-BY-4.0
Sau Chu Hy đến hơn 600 năm, nhà bác học Lê Quý Đôn để "Lý khí" làm chương đầu cho trước tác giá trị của ông là Vân Đài loại ngữ. Đó là minh chứng cho thấy sức sống dai dẳng của Lý học tại Việt Nam. Trong Lý khí, Lê Quý Đôn bàn về vô số hiện tượng tự nhiên: chuyển động của thiên thể, bản chất của nhật-nguyệt, nguyên do sinh ra gió, mây, bão, sấm, những bằng chứng về sự vận động địa chất khiến đáy biển xanh hóa nương dâu, vai trò của toán số trong tính toán tự nhiên...
Tuy không phải điều gì ông suy luận cũng đúng, nhưng Lê Quý Đôn đã (1) vận dụng logic, "cái lý đã biết" để cố gắng tìm đến cùng cực tri thức; (2) khẳng định rằng cái lý của vạn vật là bất biến, là nhận biết được - một tiền đề tư duy mà không có thì không thể nảy sinh ra khoa học; (3) không chỉ tụng niệm lại những sách vở cũ thời Tống mà còn tích hợp bàn luận những tri thức mới phương Tây, như cuốn Khôn dư đồ thuyết (坤輿圖說) do giáo sĩ dòng Tên Ferdinand Verbiest soạn để làm giàu có phong phú thêm mô hình Lý-Khí của Á Đông.
Sau Vân Đài loại ngữ, ta còn thấy rất nhiều trước tác tương tự bàn về tự nhiên, như Thối thực ký văn của Trương Quốc Dụng, Nam quốc địa dư của Lương Trúc Đàm... thời Nguyễn.
Xuyên suốt gần một ngàn năm, "cách vật" để đạt đến tri thức vẫn luôn là một phương pháp rèn giũa bản thân quan trọng của các nhà Nho Việt Nam nhằm thực hiện những lý tưởng "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ".
Trong kỳ 2, chúng tôi sẽ thảo luận về một trường phái Nho học khác là Tâm học Dương Vương Minh, tầm ảnh hưởng của phái ở Việt Nam, và phái này nhìn nhận khoa học-kỹ thuật ra sao.
---
Tài liệu tham khảo:
[1] Dương Xuân Ngọc Hà, Nguyễn Việt Phương, 2023, Khái luận về Lý học Tống Nho, Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Xã hội và Nhân văn ISSN 2588-1213, Tập 133, Số 6A, 2024, Tr. 91–102; DOI: 10.26459/hueunijssh.v133i6A.7127, tr. 92-94
[2] Joseph Needham, Wang Ling, 1956, Science and civilization in China- Volume 2: History of scientific thought, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 464-493
[3] Nguyên văn là "惟於理有未窮,故其知有不盡也。是以大學始教,必使學者即凡天下之物。莫不因其已知之理而益窮之,以求至乎其極。至於用力之久,而一旦豁然貫通焉。則衆物之表裏精粗,無不到,而吾心之全體大用,無不明矣。此謂物格。此謂知之至" - Nguồn: https://zh.wikisource.org/wiki/四書章句集註