Tại COP26, Việt Nam đã cam kết giảm phát thải và chuyển đổi sang năng lượng tái tạo với mục tiêu đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Ngành điện đóng vai trò quan trọng trong nỗ lực này, với năng lượng tái tạo dự kiến chiếm 30,9 - 39,2% sản lượng điện vào năm 2030 và 67,5 - 71,5% vào năm 2050 theo Quyết định số 500/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Theo một báo cáo mới do Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) và New Climate Institute thực hiện, việc mở rộng quy mô ngành điện với tỷ trọng cao các nguồn năng lượng tái tạo theo Quy hoạch Điện 8 (PDP8) sẽ làm tăng nhu cầu lao động trực tiếp từ khoảng 300.000 việc làm toàn thời gian (FTE) hiện nay lên khoảng 500.000 cho đến khoảng năm 2035. Sau 2035, lực lượng lao động sẽ giữ ở mức ổn định do năng suất lao động tăng và công suất năng lượng tái tạo tăng trưởng chậm lại.
Trong đó, lực lượng lao động cho điện mặt trời quy mô lớn sẽ tăng lên gần 140.000 việc làm toàn thời gian, còn lực lượng lao động cho điện mặt trời mái nhà sẽ tăng lên khoảng 17.000 việc làm toàn thời gian từ nay đến năm 2030.
![]() |
Đến những năm 2040, việc làm trong hai lĩnh vực điện mặt trời và điện gió sẽ đóng góp hơn một nửa việc làm trong ngành điện. |
Trong khi đó, số lượng việc làm toàn thời gian trong lĩnh vực điện gió chỉ thực sự tăng mạnh sau năm 2030, với điện gió trên bờ tăng từ trung bình 27.000 việc làm toàn thời gian giai đoạn 2022 - 2030 lên 50.000 việc làm toàn thời gian vào năm 2045. Điện gió ngoài khơi sẽ có sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn nhiều, từ 37.000 việc làm toàn thời gian năm 2030 sẽ tăng gấp ba lần vào năm 2035 và tăng gấp bốn lần vào năm 2040 lên 136.000 việc làm toàn thời gian.
Đến những năm 2040, việc làm trong hai lĩnh vực điện mặt trời và điện gió sẽ đóng góp hơn một nửa việc làm trong ngành điện.
Số lượng việc làm toàn thời gian trong lĩnh vực sinh khối cũng được dự đoán sẽ tăng mạnh từ khoảng 10.000 việc làm năm 2022 lên 100.000 việc làm năm 2045, do việc cải tạo các nhà máy điện than để sử dụng sinh khối và sự ra đời của các nhà máy điện sinh khối mới. Số lượng việc làm cao còn do chi phí lao động cung cấp sinh khối từ các loại phụ phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp hay chăn nuôithấp.
Thủy điện, hiện cung cấp khoảng 30% công suất điện của Việt Nam, vẫn sẽ đóng vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu việc làm dự kiến sẽ giảm từ 180.000 việc làm toàn thời gian năm 2022 xuống còn 150.000 việc làm toàn thời gian vào năm 2045do có ít đập thủy điện mới được xây dựng hơn. Thủy điện tích năng, một giải pháp lưu trữ điện, sẽ đòi hỏi một lực lượng lao động tương đối ổn định trong giai đoạn 2030 - 2045.
Ngoài việc làm trực tiếp, các việc làm gián tiếp và việc làm phát sinh cũng sẽ xuất hiện. Ngành điện sẽ tạo ra thêm 260.000 việc làm gián tiếp mỗi năm trong giai đoạn 2022 - 2029, tăng lên 450.000 trong giai đoạn 2030 - 2039 và tiếp tục tăng lên 630.000 từ năm 2040 trở đi. Quy mô việc làm phát sinh còn cao hơn - trung bình 340.000 việc làm mỗi năm trong giai đoạn 2022 - 2029, 530.000 việc làm trong giai đoạn 2030 - 2039 và 730.000 việc làm từ năm 2040 trở đi. Nhu cầu việc làm phụ thuộc rất nhiều vào các giả định về tỷ lệ nội địa hóa sản xuất thiết bị và cung cấp dịch vụ của Việt Nam.
Mặc dù số lượng việc làm trong lĩnh vực năng lượng tái tạo có thể ít hơn so với các lĩnh vực khác, nhưng các vị trí này thường yêu cầu trình độ cao hơn và có mức lương hấp dẫn hơn.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra khoảng 25% việc làm trong lĩnh vực năng lượng gió và mặt trời đòi hỏi lao động có tay nghề cao. Ví dụ, các vị trí như kỹ sư năng lượng tái tạo và chuyên gia tư vấn năng lượng tái tạo có mức lương trung bình hằng tháng lần lượt là 17,6 triệu đồng và 24,9 triệu đồng. Ngược lại, các vị trí như kỹ thuật viên lắp đặt điện mặt trời và kỹ thuật viên tua-bin gió có mức lương lần lượt khoảng 10,3 triệu đồng và 12,6 triệu đồng/tháng.
Báo cáo nhận định khi Việt Nam tiếp tục quá trình chuyển đổi năng lượng, việc đầu tư vào phát triển lực lượng lao động có tay nghề cao sẽ rất quan trọng để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của ngành và tận dụng các cơ hội kinh tế do năng lượng tái tạo mang lại.
![]() |
Sinh viên ngành Kỹ thuật điện và Năng lượng tái tạo, Trường ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: USTH. |
Báo cáo ước tính, việc đào tạo lại kỹ năng cho người lao động sang các công nghệ năng lượng tái tạo (ví dụ kỹ sư, tài xế cần cẩu hoặc công nhân kim loại trong lĩnh vực năng lượng mặt trời và gió) có thể mất 3 – 5 năm đào tạo ban đầu và 5 – 10 năm nữa để đạt mức độ chuyên môn cao. Việc tích hợp chương trình giảng dạy tập trung vào năng lượng tái tạo vào các trường đại học và trường dạy nghề cần 5 – 10 năm, trong khi việc mở rộng năng lực sản xuất và vận hành trong nước trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo có thể mất 10 – 15 năm.
Bên cạnh đó là yêu cầu chuyển đổi sinh kế cho lực lượng lao động ngành than. Số lượng việc làm trong lĩnh vực điện than sẽ giảm mạnh từ 140.000 năm 2022 xuống 6.500 năm 2045 và về 0 vào năm 2050 do tỷ trọng than nhập khẩu ngày càng tăng và công suất nhiệt điện than giảm sau năm 2030. Do đó, người lao động trong ngành khai thác than và các ngành liên quan sẽ cần được đào tạo lại và tái bố trí để tránh gián đoạn kinh tế và xã hội.
Nguồn:
https://caseforsea.org/post_knowledge/projection-of-labour-force-for-viet-nam-energy-transition/
Trà My

