Kỳ 1: Cuộc chiến chống phong tỏa đường biển: Thiết bị phá lôi đầu tiên
Những cô gái đếm lôi
Theo Hiệp định Paris, Mỹ phải tháo gỡ những bom mìn mà họ đã rải nhằm phong tỏa các cảng nước ta. Ngày 28/1/1973, Chuẩn Đô đốc Brian McCauley của Hạm đội 7 phải vào Hải Phòng để cùng tướng Hoàng Hữu Thái bàn việc rà phá thủy lôi.
Số liệu do Mỹ công bố cho biết, lượng bom mìn đã thả xuống miền Bắc nước ta là trên 330 nghìn quả, riêng năm 1972, lượng thủy lôi thả xuống cảng Hải Phòng là 11 nghìn quả.
Trong khi đàm phán, hai bên cùng đưa ra các con số và phía Mỹ tỏ ra khâm phục những người đếm lôi của chúng ta đã cho con số khá là khớp. Để có những con số rất khớp đó là nhờ cả một hệ thống quan sát, đo đếm lôi được Cục Đường biển thuộc Bộ Giao thông Vận tải (từ dưới đây gọi tắt là Đường biển) xây dựng hết sức công phu.
Trên tàu sân bay Mỹ, trước khi lắp thủy lôi lên những chiếc A-4, A-6 chuyên viên lôi Mỹ (mine man) tốt nghiệp các trường EOD (Explosive Ordnance - xử lý các chất nổ) tại Hawai hay California sẽ kiểm tra từng quả, định thời gian và các yêu cầu đánh phá, số hiệu... vào bộ kit của từng thủy lôi và danh mục đó được thông báo cho máy bay. Khi thả lôi, dù hết sức vội vàng để tránh lưới phòng không của chúng ta, bản đồ tác chiến ghi lại toàn bộ hành trình, vị trí thả và tất nhiên đặc tính của từng quả lôi ở mỗi vị trí.
Còn với những người đếm lôi của chúng ta, đa số là các thiếu nữ tuổi đôi mươi, phân bố trong các cung, đoạn đường bảo đảm hàng hải suốt dọc ven biển, khi máy bay Mỹ lao tới là đã có mặt tại hiện trường, căng mắt nhận dạng từng quả lôi.
Những cô gái đếm lôi.
Tấm hình chụp cô Kim đứng bên chiếc la bàn câm, cô Huê cầm ống nhòm, còn cô Vây đang ghi chép, tại trạm Miếu Mẫu thuộc xã Hoàng Châu, Cát Hải, Hải Phòng cho ta thấy tất cả các công việc đếm lôi trong tiếng gầm rù của máy bay.
Bằng những chiếc la bàn câm do xưởng cơ khí Bảo đảm Hàng hải chế tạo, cô Kim sẽ đọc các phương vị tức tọa độ của nơi bom rơi, cô Huê đếm số lượng để Vây ghi chép. Những con số đó sẽ được trạm tổng hợp lại và vẽ lên tấm bản đồ khu vực. Các dữ liệu của từng trạm được tập hợp lại và thành báo cáo của Cục, của Ban Chỉ huy Quân sự cấp trên.
Nhìn tấm bản đồ ghi chép chi tiết các trận địa lôi và dự kiến đánh phá với tiêu đề "Báo cáo chống thủy lôi Quân khu 4" do cán bộ Bùi Vỹ ký ngày 19/06/1967 tại Cửa Hội ta không thể ngạc nhiên về trình độ tổng hợp, trình bày tỉ mỉ, cố gắng dùng màu sắc rất hạn hẹp lúc đó để làm nổi bật chủ đề. Trong danh sách các cô đếm lôi tại Cửa Hội ngày đó có Hoàng Thị Toán, Nguyễn Thị Bổi; còn Đào Thị Minh cùng chồng tham gia canh gác, quan sát thủy lôi, bom mìn tại trạm H2 vịnh Hạ Long cùng các đồng đội như Phạm Thị Thu, Nguyễn Thị Ban, chị Hải, chị Ngủn..., trạm này do ông Soài làm trạm trưởng.
Đó là những người sống sót sau chiến tranh, còn những cô như Đỗ Thị Mây đã hy sinh ở tuổi 20 cùng với các cô đếm lôi Vây, Vội, trên đường ra trạm hay một loạt đã hy sinh trong trận bom Mỹ ném cảng Bến Thủy năm 1968.
Một số thiếu nữ phá lôi đã để tuổi xuân vụt qua trong chiến tranh, khi hòa bình lập lại, cả nước đã yên vui trong thái bình thì tuổi xuân của những phụ nữ này đã hết, nhiều người không thể lập gia đình.
Chữ ký của con tàu
Chính từ những số liệu của các cô gái đếm lôi, nhờ các chiến sĩ lặn, mò tìm, tháo các quả thủy lôi, quy luật đánh phá của các thủy lôi ngày càng sáng tỏ. Đó là chúng được định giờ và cài đặt tùy theo cái được gọi là "chữ ký của tàu". Bởi vì trên thực tế chiến trường, chúng ta thấy bom hay thủy lôi từ tính có khi chỉ nổ khi gặp phải đúng một loại đối tượng nhất định.
Nếu con người dùng chữ ký để thể hiện bản thân mình, thì con tàu, một vật thể do con người tạo ra, trong cuộc đời hoạt động của nó cũng để lại những dấu ấn nhận định mà ngôn ngữ ngày nay gọi chung đó là những chữ ký. Trong đó, nổi bật nhất là chữ ký âm học (acoustic signature) và tiếp đến là chữ ký từ tính (magnetic signature) mà các khoa học quân sự hải quân phải nghiên cứu kỹ lưỡng trong các cuộc chiến tranh hiện đại...
Chữ ký từ của con tàu.
Các loại bom và thủy lôi mà Mỹ dùng trong chiến tranh Việt Nam hầu hết thuộc loại sử dụng chữ ký từ tính. Bởi vậy, từ những năm 1967 chưa có bao giờ mà những khái niệm về khoa học điện từ như từ trường, từ thông, cảm ứng từ, tiêu từ... những đơn vị như ampe, volt, milioersted.., lại được anh em kỹ thuật làm công tác chống phong tỏa nhắc tới nhiều như vậy. Tại các trường đại học những năm đó, cuốn sách được mọi người tìm đến là cuốn Vật lý lý thuyết của hai nhà khoa học Xô-viết gốc Do Thái Landau L.D và Lifshitz E.M.
Như vậy, từ trường của một con tàu qua hình 2.2, bắt đầu mạnh dần lên từ mũi tàu và mạnh nhất tại nơi có nhiều sắt thép như thượng tầng, buồng máy.. rồi kết thúc tại đuôi tàu. Để đánh phá tàu, mạch gây nổ của thủy lôi đã được lập trình để nhận biết chữ ký này và gây nổ. Các thiết bị rà phá thủy lôi phải tạo được xung từ gần giống với chữ ký từ mà thủy lôi đã lập trình, tức là tạo "một con tàu ảo" từ tính để gây nổ, phá thủy lôi. Với nhiệt tình chế tạo, hàng loạt thiết bị phóng xung từ để phá lôi đã ra đời. Ngoài các khung dây chạy pin, còn có HDL-9 tức là viết tắt các chữ Hải quân Diệt Lôi ra đời tháng 9/1967 của xưởng X46, HT-5 tức Hải quân Từ trường tháng 5/1968, tiếp theo là HT-6, CBC tức Công Binh Cảng.
Trung Quốc cũng gửi sang các thiết bị T 480 được lắp trên các tàu rà phá lôi có tên Thanh Niên, TV-03 của xưởng cơ khí Bảo đảm Hàng hải.
Các biến thể của thiết bị phá lôi đầu tiên PĐ-67
Rút kinh nghiệm của thiết bị đầu tiên, Tổ nghiên cứu rút kinh nghiệm cho các sản phẩm sau là PĐ-67-2 và PĐ-67-3. Thiết bị này bao gồm một ống dây có lõi từ bằng sắt CT 3 (với PĐ-67-2) và bằng tôn silic (với PĐ-67-3). Bình ắc quy 12V - 128 Ah. Bộ tự động tạo xung để kích nổ thủy lôi.
PĐ-67-3 được thiết kế gọn nhẹ, đủ đặt trên một xuồng gỗ nhỏ và ngay khi thử nghiệm đã phá được ba quả thủy lôi ở cửa Lạch Giang nên được phép sản xuất một loạt 50 chiếc để cung cấp cho các đơn vị trong và ngoài ngành đường biển. Các chiến sĩ phá lôi đã sử dụng thiết bị theo nhiều cách: kéo dây dọc hai bờ sông, thả trôi, kéo theo xuồng phá lôi...
Thiết bị PĐ 67-3 (trái) và thiết bị đặt trên xuồng gỗ nhỏ.
Ngày nay, đi qua khu công nghiệp Thịnh Long Nam Định sầm uất, tới một địa điểm mang tên Phà Gót Tràng trên đường ra cửa Lạch Giang của con sông Ninh Cơ, có ai biết rằng tại đây đã tiến hành cuộc thử nghiệm đầu tiên của thiết bị phá lôi phiên bản thứ ba PĐ-67-3.
Người chủ trì thiết kế, kỹ sư Nguyễn Ngọc Linh tốt nghiệp điện khóa ba Đại học Bách khoa lúc đó 31 tuổi, vừa lập gia đình được vài ngày.
Trong nhóm thiết kế cùng đi thử nghiệm còn có kỹ sư đóng tàu Trần Công Chánh, miền Nam tập kết, sống độc thân. Hai kỹ sư "giành" nhau bước xuống chiếc thuyền gỗ chuẩn bị mang thiết bị đi thử nghiệm. Chánh quyết giành bằng được vị trí này vì "nếu có sao, tôi chỉ có một mình, còn Linh vừa lập gia đình, tội quá!" Nhưng Linh trên vị trí chủ trì, muốn tận mắt thấy thiết bị hoạt động trên hiện trường. Thử nghiệm với bom đạn, hai kỹ sư giành nhau đi vào chiến đấu với tử thần! Cuộc thí nghiệm đã thành công ngoài mong đợi. Ba quả lôi nổ liên tiếp trên con đường con thuyền tiến dần ra Biển Đông. Không chỉ cận kề với cái chết, tổ nghiên cứu của Đường biển cũng đã có người hy sinh trên vị trí công tác.
PĐ-67-3 được sản xuất hàng loạt 50 chiếc và thư tay của thứ trưởng Nguyễn Lưu thúc dục gửi cho Thái Bình.
Ngày 16/4/1972, máy bay Mỹ phóng tên lửa trúng trụ sở Cục Đường biển, kỹ sư điện Lê Nghinh người Bình Định, tốt nghiệp Đại học Gdansk Ba lan đã chết ngay tại chỗ. Nhưng mất mát, hiểm nguy của các cán bộ nghiên cứu đâu bằng những người Đường biển đang trực tiếp chiến đấu: người đếm lôi, người mò lặn đưa bom về nghiên cứu và đặc biệt là những đội sử dụng các thiết bị đã nghiên cứu chế tạo đi rà phá trên khắp các địa bàn với những cái tên thân thương: ngã ba Quả Xoài, cửa Lục, cửa Sót ...
Cục trưởng Lê Văn Kỳ nhiều lần tự hào vì đã có cả một đội ngũ cán bộ từ kỹ sư tới những người thợ tài năng và nhiệt huyết, trong một "tổ hợp khoa học kỹ thuật khép kín" có khả năng hoàn thành những nhiệm vụ mà đất nước giao cho.
(Còn tiếp)