Gần đây, GS Phùng Hồ kể lại câu chuyện chế tạo được con chip đầu tiên của Việt Nam vào khoảng năm 1975-1978, với sự hỗ trợ của Oscar Memelink, giáo sư ngành vi điện tử và các nhà khoa học khác tại Đại học Twente của Hà Lan, trong dự án xây dựng Phòng thí nghiệm Vi điện tử (Bộ môn Vật lý chất rắn, Khoa Toán Lý, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội). Nhưng cuối thập niên 1970, phía Hà Lan ngừng viện trợ cho dự án.
Lưu ý rằng Memelink có quan hệ mật thiết với hãng Philips, và đến năm 1984 thì Philips và ASM International thành lập nên ASML trứ danh sở hữu cỗ máy quang khắc quyền lực. Vì vậy, chúng ta có thể đặt câu hỏi phải chăng Việt Nam từng có một cơ hội quý giá tiếp cận công nghệ bán dẫn đỉnh cao thế giới từ rất sớm?
Hà Lan là một trong những nước Tây Âu đầu tiên giúp đỡ Việt Nam trong chiến tranh. Mục đích của họ luôn là lĩnh vực nhân đạo, tránh xa các lĩnh vực liên quan quân sự. Lúc đó, bên cạnh Ủy ban Quyên góp sách cho Hà Nội và Ủy ban Y tế Hà Lan - Việt Nam (MCNV, vẫn hoạt động cho đến ngày nay), còn có ủy ban thứ ba, liên quan đến dự án Vi điện tử, là Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật vì Việt Nam, Lào và Campuchia, thành lập ngày 18/6/1971 (từ đây được gọi tắt là Ủy ban KHKT hoặc Ủy ban). Đây là một tổ chức tư nhân, tình nguyện kết nối với các trường đại học ở Hà Lan và Bộ Hợp tác và Phát triển Hà Lan, quyên góp, xin tài trợ cho Việt Nam.
Hai ý định của Bộ trưởng Tạ Quang Bửu
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, đến tháng 5/1973, Ủy ban KHKT mời một phái đoàn ba người Việt Nam sang thăm Hà Lan, trong đó có giáo sư ngành thủy lợi Lê Thạc Cán, cán bộ Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, do Bộ trưởng Tạ Quang Bửu cử đi [1].
Biên bản họp ngày 11/10/1973 của GS Lê Thạc Cán tại Đại học Tổng hợp Amsterdam. Nguồn: Kho lưu trữ Thành phố Amsterdam.
Phái đoàn đã đi thăm nhiều trường đại học ở Hà Lan và được tiếp đón nồng hậu. Đại diện của Thành phố Amsterdam cũng gặp họ để hỏi về việc nên làm gì với số tiền mà người dân thủ đô Hà Lan quyên góp được cho Hà Nội.
Sau khi nghe GS Lê Thạc Cán báo cáo về chuyến đi, tháng 6/1973, qua kênh ngoại giao ở Paris, Bộ trưởng Tạ Quang Bửu chuyển đến câu hỏi rằng liệu các trường đại học Hà Lan có muốn hợp tác trong hai chuyên ngành vi điện tử và vật lý nhiệt độ thấp không. Vốn là người học ở Pháp và Anh, ông biết rõ Hà Lan rất mạnh ở hai lĩnh vực đó. Ý định của Bộ trưởng Bửu từng được GS Thân Đức Hiền kể lại: "GS Bửu giải thích cho tôi là ngay từ bây giờ (còn chiến tranh) ta phải chuẩn bị các điều kiện để nghiên cứu trong tương lai. Hà Lan là nước nhỏ, nhưng có hai lĩnh vực phát triển mạnh là nhiệt độ thấp và vi điện tử. GS Bửu còn nói thêm, sau này đất nước yên bình, ta sẽ xây dựng đường tải điện siêu dẫn từ Hà Nội vào Sài Gòn để không hao tổn điện năng" (chữ in đậm của GS Thân Đức Hiền) [2].
Trong buổi họp ngày 19/10/1973 tại trụ sở Nuffic (Netherlands University Foundation For International Cooperation) - cơ quan đại diện cho Bộ trưởng Hợp tác Phát triển Hà Lan, có chức năng thẩm định các dự án viện trợ - với sự tham dự của các trường đại học, Ủy ban KHKT và Ủy ban Y tế, một vài người đặt câu hỏi tại sao không có dự án nào liên quan đến nông nghiệp, cầu đường, thủy lợi hay y tế. Rốt cuộc, tuy có thất vọng nhưng đa số bày tỏ ý kiến là nên tôn trọng ý muốn của Việt Nam, và Bộ trưởng Hợp tác Phát triển Hà Lan Jan Pronk sẵn sàng tài trợ cho các dự án Việt Nam, kể cả trong hai lĩnh vực trên. Phải nói thêm là trong giai đoạn đó Đảng Xã hội Dân chủ đang nắm quyền ở Hà Lan, và rất có cảm tình với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bộ trưởng Jan Pronk là người của Đảng Xã hội Dân chủ Hà Lan. Những chi tiết trên được ghi lại trong cuốn hồi ký Gửi lời chào đoàn kết: Trợ giúp kỹ thuật và khoa học cho Việt Nam 1971-2011 của Peter de Goeje, một thành viên sáng lập Ủy ban KHKT, người vô cùng tâm huyết và yêu quý Việt Nam [3].
Cuốn hồi ký của Peter de Goeje đã được Cao Xuân Tú dịch sang tiếng Việt, Nguyễn Thế Hiện hiệu đính, và NXB Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành năm 2012. Ảnh: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Sau đó, sự chuẩn bị cho hai dự án vật lý bắt đầu. Qua cơ quan ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Paris, các nhà vật lý ở Amsterdam và Leiden đã trao đổi thư từ với các đồng nghiệp Hà Nội. Hai bên thống nhất phía Việt Nam sẽ cử người sang Hà Lan vào đầu năm 1975. Trước đó, Ủy ban KHKT nhận được lời mời sang thăm Việt Nam vào tháng 12/1974.
Phòng thí nghiệm Vi điện tử
Tháng 1/1975, phái đoàn do Nguyễn Đức Thừa - Phó hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội làm Trưởng đoàn, cùng bốn nhà vật lý sang Amsterdam. Họ bao gồm Thân Đức Hiền và Lê Khắc Bình từ Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, cùng Vũ Đình Cự và Nguyễn Xuân Chánh từ Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Cả bốn đều được đào tạo ở Liên Xô, hai người trước về vật lý nhiệt độ thấp và hai người sau là vi điện tử. Trong chuyến thăm, Ủy ban KHKT đã nộp hồ sơ xin tài trợ cho hai dự án lên Nuffic. Hai dự án này gặp khó bởi vì chủ trương của chính phủ Hà Lan là viện trợ phải dành cho "người nghèo nhất trong những người nghèo", trong khi hai dự án lại thuộc về nghiên cứu cơ bản. Tuy nhiên, rốt cuộc hai dự án đã được chấp thuận [3].
Phòng thí nghiệm Vật lý nhiệt độ thấp (CryoLab) thuộc Khoa Vật lý, Đại học Tổng hợp Hà Nội, trong thời gian 1976-1980 đã nhận được 1,09 triệu Gulden. Phòng thí nghiệm Công nghệ bán dẫn và vi điện tử của Đại học Bách khoa Hà Nội trong thời gian 1975-1978 nhận được 416.200 Gulden. Các thiết bị quan trọng nhất cho hai dự án này được mua từ hãng Phillips, và hai phòng thí nghiệm được trang bị trong khoảng 1976-1978.
Các thành viên Phòng thí nghiệm Vi điện tử năm 1977 (từ trái sang): Holleman, Nguyễn Xuân Chánh, Võ Thạch Sơn, Chu Hảo, Lưu Công Lộ, Nguyễn Đức Chiến, Koy, Nguyễn Văn Thực, Phùng Hồ. Ảnh tư liệu của GS Phùng Hồ
Dù vậy, hợp tác khoa học ngày đó còn gặp nhiều khó khăn do những hiểu lầm, dè chừng sau chiến tranh.
Vào một ngày cuối năm 1975, GS Memelink đang giảng bài ở Đại học Bách khoa Hà Nội thì thấp thoáng những bóng người Việt mặc quân phục đi vào giảng đường chật ních để nghe - hồi ký của Goeje ghi lại. Vốn là một người theo đuổi chủ nghĩa hòa bình, lúc nghỉ giải lao, GS Memelink đã lên tiếng phản đối sự hiện diện của quân đội trong giảng đường. Tuy sau giải lao không còn thấy màu áo xanh lục nữa, trong ông đã dấy lên một mối nghi ngờ về khả năng ứng dụng quân sự [3].
Thêm nữa, ngày đó thủ tục rất rườm rà, các nhà khoa học và kỹ thuật của Đại học Twente lúc nào cũng chỉ nhận được visa vào phút chót - theo hồi ký của Goeje. Đầu năm 1978, Memelink đưa ra quyết định bất ngờ là sẽ không tiếp tục hợp tác sau khi kế hoạch năm đó của dự án hết hạn, với lý do có khả năng các vi mạch được ứng dụng vào mục đích quân sự.
Cuối năm 1978, dự án Vi điện tử chấm dứt. Dù vậy, nó đã tạo ra cơ sở quan trọng để năm 1985, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và GS Trần Đại Nghĩa vận động nâng cấp phòng thí nghiệm Vi điện tử lên thành Viện. Đó là lần đầu một bộ môn của một đơn vị giáo dục được mang danh hiệu một viện nghiên cứu, vì trước đó mọi hoạt động nghiên cứu đều tập trung ở Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, còn các trường đại học chỉ giảng dạy. Sau vài lần thay đổi, sáp nhập, phòng thí nghiệm nay trở thành Viện Vật lý Kỹ thuật thuộc Đại học Bách khoa Hà Nội.
Viện Đào tạo quốc tế về khoa học vật liệu ITIMS
Nhưng câu chuyện hợp tác bán dẫn với Hà Lan chưa kết thúc ở thời điểm 1978. Điều thú vị là sự tiếp nối của nó lại gắn với dự án thứ hai, đó là sự ra đời của Viện Đào tạo quốc tế về khoa học vật liệu (ITIMS) [4].
Sau chiến tranh Campuchia và chiến tranh biên giới 1978-1979, Hà Lan vẫn tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong 14 dự án, và đó là những hỗ trợ duy nhất dạng này mà Việt Nam nhận được từ nước ngoài. Một trong những lý do khiến phía Hà Lan tập trung hỗ trợ thiết bị cho Hà Nội là họ nhận thấy, dù hàng trăm, thậm chí hàng nghìn người Việt Nam được sang Đông Âu học tập, chương trình đào tạo vẫn thiên về lý thuyết và không bao gồm việc gửi thiết bị thực nghiệm sang Việt Nam.
Peter de Goeje (1943), tác giả cuốn hồi ký Gửi lời chào đoàn kết, vốn là lập trình viên, nhân viên của ĐH Tổng hợp Amsterdam. Ảnh ông gửi cho tác giả
Tháng 3/1989, trong một cuộc gặp với phía Hà Lan tại Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nêu ý tưởng nhờ Hà Lan hỗ trợ lĩnh vực quản lý. Đại diện Hà Lan hứa sẽ tìm hiểu thêm và đề nghị xem xét tổ chức một hội nghị như vậy ở Amsterdam. Đến tháng 7 cùng năm, Goeje cùng nhà vật lý Frans Bekker, người từng liên quan đến dự án Vật lý nhiệt độ thấp, đến thăm Đại sứ quán Việt Nam tại Paris. Sau khi bàn thảo, các bên thấy chưa phải thời điểm thích hợp cho một hội nghị về khoa học quản lý, nhưng lại nảy ra ý tưởng về hội nghị khoa học vật liệu ở Hà Nội, vì khi đó Việt Nam đã có nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này và không chỉ trong phạm vi hợp tác với Hà Lan.
Bên cạnh Đại học Tổng hợp Amsterdam, Đại học Kỹ thuật Twente cũng muốn nối lại quan hệ sau khi dự án Vi điện tử kết thúc năm 1978, vì vi điện tử là một thành tố thiết yếu trong đầu ra của khoa học vật liệu. Phía Việt Nam rất phấn khởi khi biết có thể có nguồn tài trợ mới. Các bên quyết định Hội nghị sẽ được tổ chức ở Hà Nội vào tháng 10/1990 [4].
Hội nghị có hai phần - chất bán dẫn và pin năng lượng mặt trời, và vật liệu dựa trên đất hiếm và ứng dụng - với gần 50 người từ châu Á, châu Âu, và Mỹ, cùng khoảng 90 người Việt Nam.
Một nhóm công tác Hà Lan, theo yêu cầu của Bộ Hợp tác và Phát triển và Bộ Ngoại giao, đã sang Việt Nam vào thời điểm diễn ra Hội nghị để thẩm định dự án khoa học vật liệu. Các cuộc thảo luận ở Hà Nội đi đến kết luận thành lập một viện nghiên cứu mới để quy tụ các nhóm nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực khoa học vật liệu, đến từ Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội và Trung tâm nghiên cứu Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia. Một số lớn trong đó từng tham gia các dự án với Hà Lan trong các lĩnh vực Hóa phân tích và Hóa hữu cơ, Vật lý nhiệt độ thấp và Vi điện tử. Viện mới, được đặt tên là Viện đào tạo Quốc tế về Khoa học vật liệu, sẽ tiếp quản các quan hệ hợp tác đã thiết lập từ 1975 và được đặt trực tiếp dưới quyền quản lý của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Trần Hồng Quân.
Tháng 12/1990, Bộ Ngoại giao Hà Lan nhận được kết quả thẩm định. Bộ trưởng Hans van den Broek phản bác dự án vì lo ngại sẽ có ứng dụng quân sự. Đến mãi đầu tháng 6/1991, Bộ trưởng Pronk mới đạt được một thỏa hiệp với Bộ Ngoại giao Hà Lan: lãnh đạo hai trường đại học có liên quan là Đại học Tổng hợp Amsterdam và Đại học Kỹ thuật Twente phải đến gặp Bộ Ngoại giao và đưa ra các lý lẽ thuyết phục là dự án sẽ không đưa đến các ứng dụng quân sự. Bộ Ngoại giao theo đó sẽ thông qua dự án.
Mãi đến ngày 19/9/1991, Pronk mới thông báo Bộ Ngoại giao đã chấp thuận: họ không hồ hởi gì, nhưng không muốn ngăn cản thêm nữa. Quá sung sướng, de Goeje và Bekker đã mở tiệc ăn mừng và báo cho Hà Nội. Họ muốn đi Hà Nội ngay để triển khai đề án, nhưng đến tháng 4/1992 mới có thể lên đường vì đến lượt Đại sứ quán Hà Lan ở Bangkok, khi ấy đại diện cho Hà Lan ở cả Việt Nam, cũng có những ý kiến phản đối về chính trị.
ITIMS chính thức được thành lập vào tháng 12/1992, nhưng thiếu ngân sách để xây phòng thí nghiệm đặc chủng và mua thiết bị. Bộ Hợp tác Phát triển Hà Lan và Đại học Tổng hợp Amsterdam đã giúp xây tòa nhà thí nghiệm và xây dựng phòng sạch. Lễ khánh thành tòa nhà ITIMS diễn ra vào cuối 1997 với sự hiện diện của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Việt Nam và Đại sứ Hà Lan. Giám đốc đầu tiên của ITIMS là giáo sư Thân Đức Hiền.
Theo các nhà nghiên cứu Việt Nam, ITIMS đã được thành lập rất đúng lúc và đã giúp ngành vật lý Việt Nam vượt qua khoảng cách giữa các hoạt động nghiên cứu bị cô lập ở Việt Nam trong thời chiến tranh lạnh và tình trạng mới là các hoạt động nghiên cứu phải mang tính quốc tế. Từ 2023, ITIMS là một đơn vị thuộc Trường Vật liệu trong Đại học Bách khoa Hà Nội.
Qua câu chuyện trên và nhiều thông tin khác nữa trong sách của Peter de Goeje, trong kho lưu trữ thành phố Amsterdam, tôi thấy cảm phục và biết ơn người dân và chính phủ Hà Lan đã giúp Việt Nam vào những giai đoạn khó khăn nhất.
Tôi đã gửi email bày tỏ sự biết ơn với Peter de Goeje, người dành nhiều công sức cho Việt Nam trong suốt 40 năm. Ông vui lòng gửi tôi tấm ảnh để đưa vào bài viết.
Phan Phương Đạt tổng hợp
Tài liệu tham khảo
[1] Biên bản họp ngày 11/10/1973 của GS Lê Thạc Cán tại Đại học Tổng hợp Amsterdam. Nguồn: Kho lưu trữ Thành phố Amsterdam.
[2] Thân Đức Hiền. Sự ra đời dự án Phòng thí nghiệm Vật lý Nhiệt độ thấp (Cryolab). VNU, 23/2/2007. https://vnu.edu.vn/ttsk/?C1657/N2729/Su-ra-doi-du-an-Phong-thi-nghiem-Vat-ly-Nhiet-do-thap-(Cryolab).htm
[3] Peter de Goeje. Gửi lời chào đoàn kết. Trợ giúp kỹ thuật và khoa học cho Việt Nam 1971-2011. Cao Xuân Tú dịch, Nguyễn Thế Hiện hiệu đính, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012.
[4] Quá trình hình thành và phát triển. ITIMS. https://itims.edu.vn/gioi-thieu/qua-trinh-hinh-thanh-va-phat-trien