"Ôi, tất cả những đau thương mà ta phải hứng chịu chẳng lẽ chỉ vì một hồn ma bóng ảnh ư?", đó là lời người cận thần của vua Menelaus thốt lên khi biết rằng: nàng Helen nghiêng nước nghiêng thành – người bị coi là nguyên nhân gây ra cuộc chiến 10 năm khốc liệt ở thành Troy – thực chất chỉ là một bóng ảnh không có thật. Tất cả đã chiến đấu, đã sụp đổ vì một điều vô nghĩa.
Tất cả chỉ là một trò lường gạt của những vị thần. Họ đã tạo ra một bóng ma Helen cho những người đàn ông chém giết lẫn nhau. Còn nàng Helen thật, nàng đã được Hermes cuốn trong một đám mây, mang tới Ai Cập trú ẩn, chờ ngày tương phùng cùng gia đình.
Đây là nội dung chính trong vở kịch Helen của Euripides, một trong ba kịch tác gia vĩ đại của Hy Lạp cổ, bên cạnh Sophocles và Aeschylus.
Tranh "Andromache bị bắt làm tù binh" của Frederic Leighton, khoảng năm 1888. Ảnh: Wikipedia
Helen cùng với nhiều vở khác của Euripides như The Trojan Women (Những người đàn bà thành Troy), Hecuba và Andromache mang tư tưởng phản chiến vượt thời đại khi đứng từ góc nhìn nữ giới, những người không trực tiếp tham chiến song không ngừng bị lôi vào cuộc binh đao: người chịu tội danh hồng nhan họa thủy, người hóa chó điên vì thù hận, người phải tưới máu mình lên mộ tướng sĩ kẻ thù, người phải ly hương chịu đọa đày trong kiếp nô lệ...
Dù các kịch phẩm này đều có tuổi đời hàng ngàn năm, nhưng mỗi khi những cuộc chiến tranh lớn nổ ra trên thế giới, ta vẫn có thể quay lại với chúng, quay lại với thân phận của những Helen, Hecuba, Andromache, của vô số những người đàn bà vô danh hợp thành dàn đồng ca bi thiết.
Từ chính nghĩa đến phi nghĩa
Euripides sinh ra vào ngày nổ ra trận Salamis, một cuộc hải chiến giữa Liên minh các thành bang Hy Lạp và Đế quốc Ba Tư. Hy Lạp, dù thua về quân số, cuối cùng vẫn chiến thắng trước sự xâm lăng của đoàn quân do vua Xerxes I dẫn đầu. Thế rồi, suốt đời mình, Euripides nhiều lần chứng kiến chiến tranh. Khi thì Hy Lạp bị tấn công, khi thì Hy Lạp đi tấn công. Khi là kẻ gây chiến, lúc lại là nạn nhân của chiến tranh. Chiến tranh trở thành một chủ đề lớn trong kịch của ông. Và theo thời gian, thái độ của Euripides với chiến tranh cũng thay đổi.
Được biểu diễn lần đầu vào năm 423 TCN, vở The Suppliants (Những người cầu khẩn) thể hiện lòng tin vào cuộc chiến mà vua Theseus khởi xướng để đưa quân Athens tiến vào Thebes, cướp lấy những xác chiến binh Argos bị Thebes bỏ mặc không chôn cất. Ông tin đó là một cuộc chiến vì chính nghĩa, vì công lý, một cuộc chiến thay trời hành đạo. Athens – kẻ gây chiến – đang bảo vệ quyền lợi của những người đã chết, bảo vệ sự công bằng trên thế gian, bảo vệ luật lệ của thần linh.
Nhưng thái độ ấy đã thay đổi vào giai đoạn sáng tác tiếp theo khi ông viết Những người đàn bà thành Troy, Hecuba hay Helen. Cùng thời điểm ấy, cuộc chiến của Hy Lạp với người Sparta ngày càng kéo dài, hai phe ngày càng lún sâu vào vũng bùn chiến tranh, thảm kịch nối tiếp thảm kịch, chẳng hạn cuộc vây hãm Melos vào năm 416 TCN trong đó Hy Lạp hành quyết toàn bộ đàn ông trên hòn đảo này và bắt phụ nữ, trẻ em làm nô lệ.
Tranh "Cái chết của vua Priam", 1861, của Jules Joseph Lefebvre. Nguồn: Wikimedia Commons.
Helen được viết và biểu diễn không lâu sau sự kiện Melos và cuộc viễn chinh Sicily, một chiến dịch bị coi là tự hủy của Hy Lạp trong cuộc chiến với Sparta, khi Athens mang hạm đội tiến đánh Sicily để rồi bị đánh bại tan tành. Chiến tranh lộ ra bộ mặt xấu xí, đồi bại, vô nghĩa, không còn vẻ hào hùng, tráng lệ, công chính trong những ngày đầu. Euripides không còn bị lừa mị bởi những viễn cảnh đẹp đẽ, cao cả mà các nhà quân sự vẽ ra để ủng hộ chiến tranh.
Những giá trị tốt đẹp được rao giảng như công lý, dân chủ phải trở thành cái cớ đẹp đẽ để gây chiến. Nhưng phải chăng chúng cũng chỉ là những ảo ảnh như bóng ma nàng Helen mà nữ thần Hera đã tạo ra để trêu đùa con người?
"Những kẻ ngu muội cầu danh vọng chiến trường"
Một trong những đại cảnh hoành tráng nhất trong kịch Euripides, là cảnh thành Troy tan tành trong khói lửa ở đoạn cuối vở Những người đàn bà thành Troy.
Hoàng hậu Hecuba, vợ của vua Priam, từ thân phận cao quý bị giáng xuống vực thẳm sâu nhất của số phận: Troy đổ nát, phu quân Priam tử trận, con trai Hector tử trận, đứa con trai khác bị ném xuống biển, một người con gái bị đem hiến tế, một người con gái bị cưỡng làm nô lệ, đứa cháu nội còn nằm nôi bị quân Hy Lạp ném từ trên tường thành để diệt trừ hậu họa, bản thân Hecuba bị ép phải theo hầu Odysseus.
"Vị hoàng hậu của đau thương" nhìn tổ quốc trong nước mắt và chỉ có thể thốt lên gọi thần Zeus, hỏi rằng liệu ngày có thấy những gì dân tộc bà đang hứng chịu. Đáp lời bà, dàn đồng ca thống thiết hát:
"Ngài thấy chứ. Đô thành vĩ đại -
giờ chẳng còn đô thành nào - đã bị tàn phá. Troy chẳng còn tồn tại."
Vậy là chúng ta được chứng kiến sự diệt vong của cả một vương quốc. Cuộc đời bi khốn của hàng ngàn phụ nữ Troy trong vở kịch ấy trở thành niềm cảm hứng của vô số những tác phẩm chuyển thể điện ảnh, nhạc kịch, sân khấu sau này.
Trong vở kịch này, có một cuộc đấu khẩu giữa Hecuba và Helen: Hecuba vạch tội, Helen biện bạch; và những lời tự bào chữa của Helen bị dàn đồng ca chê trách. Đến đây cuộc chiến thành Troy tuy bi thảm, song vẫn có nguyên nhân, có ý nghĩa.
Nhưng sang tới Helen, vở kịch được sáng tác sau đó, Helen trở thành nhân vật trung tâm và được giải tội hoàn toàn. Nàng cũng là nạn nhân. Hóa ra nguyên nhân cho cuộc chiến chỉ là bóng ảo của nàng Helen chứ chẳng phải nàng Helen thực thụ. Sự trớ trêu của bi kịch thành Troy càng được đẩy lên đỉnh điểm.
Tranh "Helen đứng trên tường thành Troy" của Frederic Leighton1865. Nguồn: Wikimedia
Hơn một lần các nhân vật đặt ra câu hỏi: vậy hóa ra tất cả những đau thương của Troy đều xảy ra chỉ vì một huyễn ảo ư?
Đó là giây phút vỡ mộng của tất cả mọi người, của vua, của tướng, của quân. Có lẽ đó cũng là giây phút vỡ mộng của chính Euripides.
Có một cuộc tranh luận lớn về thể loại của Helen. Là một bi kịch ư? Nhưng nếu là bi kịch, tại sao Helen lại kết thúc có hậu khi nàng được đoàn tụ cùng vua Menelaus? Nếu là bi kịch, tại sao Helen có những mảng miếng đặc trưng của hài kịch, có những phân cảnh khiến ta bật cười? Không thể dễ dàng xếp Helen là bi kịch, hay hài kịch, hay bi hài kịch.
Cách Euripides bẻ cong ranh giới thể loại khiến ta chẳng biết nên cười hay nên khóc trước cuộc đời Helen trở thành sự phủ định tính chất trang trọng của chiến tranh đến tận cùng. Chiến tranh hiện ra ngu ngốc, ngờ nghệch, ngớ ngẩn. Chiến tranh trở thành một cú lừa. Hàng trăm ngàn người đã đổ máu chẳng vì gì cả. Vậy mà họ đã lao vào đến hơi thở cuối cùng, đâu hề hay biết mình đều bị xoay vần bởi trò đùa của thần linh, như dàn đồng ca đã hát vang:
"Hỡi những kẻ ngu muội cầu danh vọng nơi nơi chiến trận,
những kẻ u mê tin vào
sức mạnh thuần túy của gươm đao
có thể kết thúc những phân tranh trần thế"
Trong kịch Euripides, hoàng hậu Hecuba, nạn nhân của chiến tranh, cuối cùng lại đi giết người trả hận. Hận thù biến bà thành một con chó điên. Một điều trùng hợp là theo giai thoại, Euripides đang đi dạo thì bị xé xác bởi đàn chó săn của Archelaus, vị vua Macedonia, nơi ông sinh sống những năm cuối đời. Bạo lực vô nghĩa là một chủ đề lớn trong tác phẩm của ông, cũng là chủ đề lớn trong chính cuộc đời ông.
Dù giai thoại có thật hay không, Euripides cũng đã chết vào năm 406 TCN. Chỉ hai năm sau, Athens sụp đổ vì chiến tranh. Người Hy Lạp đánh bại người thành Troy, để rồi lại bị người Sparta đánh bại. Con người đời nào cũng đuổi theo những cái bóng không có thật.