Những bằng chứng sớm nhất về nghề đóng thuyền Việt Nam được tìm thấy trên các con thuyền cổ thời Đông Sơn. Thiết kế: Ngô Hà.
Rộng hơn, ở bốn khía cạnh quan trọng nhất của kỹ thuật đóng thuyền, gồm cách ghép thân thuyền, khả năng thích nghi với môi trường biển, quy mô và sức chở, cùng các thiết bị và công nghệ trang bị trên thuyền, người Việt đều có những sáng tạo riêng.
Nhiều thành tựu ngành đóng thuyền thời Nguyễn như tàu bọc đồng, tàu buồm kiểu phương Tây, tàu máy hơi nước... đã được nhiều công trình, ấn phẩm nhắc tới.
Bài này sẽ tập trung điểm những dấu ấn tiêu biểu của kỹ thuật tàu thuyền nước ta (bao gồm cả của người Việt và người Chăm) trước thời Nguyễn, theo trình tự thời gian để cho thấy rõ những khía cạnh độc đáo.
Đóng thân thuyền: Kỹ thuật ghép mộng từ thời Đông Sơn
Một trong những bằng chứng sớm nhất về nghề đóng thuyền Việt Nam được tìm thấy trên các con thuyền cổ thời Đông Sơn.
Để ghép các ván thuyền với nhau, người thợ thời Đông Sơn dùng chốt gỗ chữ nhật, rồi lại dùng 4 chốt trụ tròn nhỏ xuyên qua chốt và ván để khóa chặt theo chiều ngang.
Dấu tích của mộng và chốt gỗ để ghép ván thuyền cổ hai thân ở Thuận Thành, Bắc Ninh.
Đây là kĩ thuật có truyền thống lâu đời ở Việt Nam, đã được quan sát thấy trong các thuyền cổ thời Đông Sơn ở Động Xá (kết quả giám định Carbon-14 cho thấy niên đại là từ khoảng thế kỷ 2 TCN đến thế kỷ 1 SCN) và thuyền cổ hai thân ở Thuận Thành, Bắc Ninh.
Điều thú vị là kiểu chốt như vậy rất phổ dụng ở truyền thống hàng hải Địa Trung Hải thời La Mã, trước khi chuyển sang dùng đinh kim loại [1]. Ở phương Tây, nó được định danh là "mối ghép Phoenician" theo tên của dân tộc Phoenician đi biển lừng tiếng.
Vì sao lại có sự tương đồng giữa cách đóng thuyền Việt Nam và Địa Trung Hải cổ đại như vậy? Hiện nay chưa thể khẳng định đáp án, nhưng theo chuyên gia khảo cổ Nguyễn Việt, đó là phát minh độc lập, chứ không nhất thiết phải là du nhập từ tận Địa Trung Hải. Dân cư ở những khu vực địa lý khác nhau có thể tự sáng tạo ra những phát minh giải quyết nhu cầu của mình trong quá trình sống và vô tình khớp nhau trong dòng chảy lịch sử.
Trên mép ván, một hàng lỗ được đục để nhét các chốt gỗ chữ nhật (màu đỏ), cố định vào ván theo phương ngang bằng 4 chốt trụ tròn (màu xanh).
Việc sử dụng kiểu chốt chữ nhật cho thấy truyền thống đóng thuyền Việt Nam có một dòng chảy có tính kế thừa lâu đời và độc đáo, không phải chỉ là sự sao chép và lai ghép của các truyền thống Trung Hoa và Đông Nam Á như nhiều nhà quan sát phương Tây đầu thế kỷ 20 nhận định.
Một số bạn đọc sẽ đặt câu hỏi "kỹ thuật ghép mộng đóng thuyền của Việt Nam khác thế nào với mộng của Trung Quốc". Theo hiểu biết của chúng tôi, Trung Quốc sử dụng kỹ thuật mộng chủ yếu trong nội thất, xây dựng. Tuy nhiên với đóng thuyền thì họ đóng đinh, từ đời Chu (1046–771 TCN) đã dùng đinh đồng, đến thời Tần Hán (221 TCN-220 SCN) thì dùng đinh sắt.
Thuyền bọc đồng thời đầu Bắc thuộc
Nhiều người biết đến kỹ thuật bọc đồng đáy tàu của hải quân Nguyễn thế kỷ XIX. Người Anh đến năm 1858 đã thử nghiệm việc bọc một lớp đồng thật mỏng ra ngoài vỏ gỗ, ở phần hoàn toàn chìm dưới mực nước, còn phần thân thuyền nhô lên khỏi mặt nước thì không bọc. Các loài ký sinh biển không thể ăn kim loại, nhờ vậy vỏ thuyền không cần phải thay thế và bảo dưỡng liên tục. Khi các vua Gia Long và Minh Mạng tiếp thu tri thức hàng hải của phương Tây, biện pháp này được đưa vào hải quân nước ta.
Nhưng ít ai biết rằng, các thư tịch Trung Quốc lại ghi nhận sự xuất hiện của những "thuyền đồng" ở vùng Giao Châu (tên nhà Hán gọi nước ta) trước người Anh ít nhất 1500 năm: "[...] trong sông có thuyền đồng Việt vương đúc, khi nước triều trên sông rút, có người trông thấy được" [2], "Người Việt đúc đồng làm thuyền, khi nước sông hồ rút đi có thể thấy" [3]
Lĩnh biểu lục dị thế kỷ 9 chép rằng, những con thuyền đồng vẫn xuất hiện thường xuyên trên tuyến buôn bán đường biển giữa Quảng Châu và An Nam: "mỗi năm, Quảng Châu thường phát thuyền đồng sang An Nam giao dịch hàng hoá, con đường đi qua Điều Lê" (tên nhà Đường gọi nước ta) [4].
Đồng là kim loại rất nặng, mềm, lại đắt đỏ. Chế tạo nguyên một thân thuyền hoàn toàn bằng đồng có rất nhiều bất cập. Chúng tôi cho rằng những con thuyền đồng của người Việt cổ chỉ dát một lớp đồng mỏng bên ngoài vỏ gỗ, xuất phát từ nhu cầu chống hàu hà đục gỗ rất nhức nhối ở vùng biển nhiệt đới.
Thuyền thời Nguyễn bọc các tấm đồng ra ngoài đáy gỗ để chống hàu, hà đục gỗ.
Nếu không có biện pháp bọc đồng như vậy, vỏ thuyền có thể bị ăn ruỗng rất nhanh, ván đáy thuyền cần được thay thế thường xuyên. Ngày nay, các ghe Bầu lớn ở Nha Trang vẫn cần phải thay ván bốn năm một lần và thường xuyên cạo vỏ để loại bỏ các loài sâu biển.
Nhà nghiên cứu lịch sử khoa học Joseph Needham nhận định: "Nếu vậy, những thuyền mành có đáy bọc đồng thoát thai từ truyền thống bản địa chứ không phải từ hồ Nemi của phương Tây" [5].
Có lẽ từ thời Trần, Hồ trở đi, do tình trạng khan hiếm đồng, thuyền bọc đồng đã biến mất. Trùng hợp, ta biết rằng thời Hồ Hán Thương (1401-1407) bắt đầu sử dụng thuyền đóng đinh sắt thay vì khâu ván bằng sợi thực vật. Đinh sắt sẽ bị gỉ do phản ứng điện ly khi tiếp xúc với vỏ đồng trong môi trường nước biển, nên theo lý, nếu bỏ bọc đồng thì mới có thể đóng đinh sắt.
Sau đó đến thời Nguyễn, nhà Nguyễn lại phải tái du nhập đáy bọc đồng từ phương Tây.
Thuyền đáy đan nan thời Lê Trung Hưng
Nếu phải chọn một kiểu thuyền mang đậm dấu ấn Việt Nam nhất, đó có lẽ là thuyền đáy đan nan.
Thuyền đáy đan nan là một họ thuyền gồm từ nhỏ như Thuyền Thúng cho đến lớn như Thuyền Giã. Các nước Trung Hoa và Đông Nam Á khác đều không thấy kiểu thuyền này, chứng tỏ đây là một phát minh độc đáo của người Việt.
Nhà hàng hải người Pháp J. B. Pietri cho biết về hiệu quả chống sâu, hà của đáy nan tre: "từ lâu người đi biển Việt Nam đã tập trung tìm ra một loại vỏ thuyền có thể chống lại sự tấn công của loài "sâu biển" này... với tính sáng tạo cao, người ta đã tìm được một loại cây chỉ có ở Việt Nam, ít tốn kém, khá nhẹ và đồng thời có thể chống đỡ với con hà, đó là cây tre..." [6]
Không chỉ vậy, thuyền đáy nan còn chịu lực tốt hơn thuyền vỏ gỗ trong khi giá thành rẻ hơn nhiều: "Khi ủi bãi, tàu thuyền cần có vỏ dẻo dai, chịu được những cú va chạm, có thể phân bổ rộng rãi các biến dạng ngang, tức là giống như một trái bóng cao su. Phần vỏ thuyền ngâm nước, nhờ rẻ tiền nên có thể thay thế thường xuyên trong khi phần trên khô cứng cáp có thể dùng suốt đời".
Mô hình thuyền đáy đan nan Nam Trung Bộ ("ghe nang") thời Nguyễn, hiện trưng bày ở Bảo tàng Dân tộc học.
Như vậy, với vật liệu sẵn có là cây tre, cha ông ta đã khéo léo sáng tạo ra kiểu thuyền độc đáo, đặc trưng Việt Nam, với chi phí thấp, độ bền cao mà vẫn có tải trọng lớn và đi được rất xa. Đến thế kỷ 21, kể cả khi tàu vỏ sắt đã vượt trội về mọi mặt, thuyền đáy đan nan vẫn còn sống mãnh liệt trên các bãi biển miền Trung Việt Nam.
Tưởng chừng như ọp ẹp, những chiếc thuyền đáy đan lớn lại có thể chịu đựng được sóng gió trên những hải trình dài. Đầu thế kỷ 19, học giả nhà Thanh là Thái Đình Lan đã từng viết về những thuyền như vậy tải trọng tới hai vạn "cân" (khoảng mười hai tấn) du hành đến Đài Loan. [7]
Thậm chí thuyền trưởng người Mỹ John White cùng giai đoạn đó còn quan sát rất kĩ một chiếc thuyền có đáy đan nan với tải trọng hơn 50 tấn ngoài biển Cần Giờ [8]. Để so sánh, tải trọng đó tương đương với con tàu Nina và Pinta trong hải đội mà Christopher Columbus chỉ huy để đến được châu Mỹ.
"Đại chử thuyền" có đáy đan nan, tranh vẽ của Louis Audemard.
Điều này cho thấy kỹ thuật đóng tàu này của Việt Nam đã vượt xa phạm vi sông ngòi và đi biển ven bờ. Những chiếc thuyền đáy đan không chỉ phục vụ đánh cá hay vận tải nội địa mà còn đủ khả năng tham gia mạng lưới giao thương khu vực.
Cũng ít người Việt biết rằng, những năm 1990, một thử nghiệm của Tim Severin, đưa chiếc bè tre Việt Nam không một mối nối sắt thép, lênh đênh trên biển 5.500 dặm vượt Thái Bình Dương để chứng minh cho giả thiết người Việt cổ đã dùng bè tre đi biển, cho thấy sức chống chịu phi thường của thứ vật liệu tưởng chừng mỏng manh. [9]
Những công nghệ trên tàu
Trình độ đóng tàu không chỉ thể hiện ở thân vỏ mà còn ở những thiết bị phục vụ hành trình và chiến đấu.
Vũ khí thủy chiến
Từ thế kỷ 9, các ghi chép đã cho thấy sự xuất hiện của những loại máy cơ khí nỏ cỡ lớn, có tầm bắn xa như Nỏ Xe (Xa Nỗ 車弩) hay Nỏ Hai Cung (Lưỡng Cung Nỗ 兩弓弩) được trang bị trên thuyền chiến.
Sử liệu ghi lại, "Trương Chu tự sáng tạo thuyền Mông Đồng hơn 400 chiếc, mỗi thuyền chiến có 25 chiến thủ, 32 tay chèo. 1 bộ nỏ xe, 1 bộ nỏ 2 cung" [10] .Với việc dùng hai cánh cung để phóng một mũi tên, uy lực của chúng vượt xa nỏ cầm tay.
Nỏ hai cung trang bị trên thuyền chiến.
Đặc biệt, Champa còn nổi tiếng với Mãnh Hỏa Du (Dầu cháy đượm 猛火油), một loại chất cháy vẫn tiếp tục bùng phát ngay cả khi gặp nước. Vũ khí này được ghi nhận là đã được triều đình nhà Tống tiếp thu và phát triển thành các thiết bị phun lửa sơ khai.
Sách Du Hoạn Kỷ Văn thời Tống lưu lại việc vào năm 958, quốc vương Chiêm Thành (Champa) là Nhân Đức Mạn cống cho nhà Hậu Chu ở Trung Quốc 84 bình Mãnh Hỏa Du [11]. Đây là thứ vũ khí cực kỳ lợi hại trong thủy chiến lẫn bộ chiến. Cuốn binh thư Võ Kinh Tổng Yếu thời này có hình minh họa dụng cụ phun dạng xy lanh- piston để rút dầu từ hộp chứa và phun đi xa. Đó chính là tiền thân của súng phun lửa sau này.
Hình vẽ các bộ phận ống phóng Mãnh Hỏa Du trong sách Võ Kinh Tổng Yếu thời Bắc Tống.
Sách Công Hạ Ký Văn của Trương Quốc Dụng chép rằng thành phần chính của Mãnh Hỏa Du là nhựa cây Hỏa Du (chưa rõ là cây gì), một loại cây thân gỗ cao lớn mọc trong núi. Có lẽ đây chính là tiền thân của Hỏa Hổ - một thứ vũ khí hỏa công "thương hiệu" của nghĩa quân Tây Sơn sau này.
Bơm nước
Nhà nghiên cứu lịch sử khoa học Joseph Needham tổng kết rằng bơm piston nhìn chung không phổ biến ở Trung Quốc thời trung đại, nơi bơm dạng guồng chiếm ưu thế [13]
Trái lại, khi các nhà truyền giáo phương Tây tới Việt Nam vào thế kỷ 17, bơm khoang thuyền kiểu piston lại khá phổ biến và đã đi vào Từ điển Việt- Bồ- La của Alexander de Rhode với cái tên bản địa "Thụt gỗ tàu hút nước", được định nghĩa là: "dụng cụ bằng gỗ dạng như cái xi-lanh lớn, dùng để tháo nước khỏi khoang thuyền" [14].
Bơm khoang thuyền (bilge pump) là một dụng cụ dùng để hút và xả nước tích tụ ở đáy khoang tàu do rò rỉ, sóng tràn hoặc mưa, giúp tàu giữ ổn định, tránh ngập và giảm nguy cơ chìm.
Hình vẽ của loại bơm này xuất hiện trong tập bản vẽ Thuyền bạc danh hiệu đồ thức thời Nguyễn với tên chữ là "dẫn thủy đồng" 引水筒 (ống dẫn nước). Đó là 1 chi tiết thú vị về sự khác biệt trong công nghệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Hình vẽ bơm piston "dẫn thủy đồng" trong sách "Thuyền Bạc Danh Hiệu Đồ Thức", bản ký hiệu H/VV 140, Thư viện Viện khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
Khi tra sách Hổ Trướng Khu Cơ, mục "Phép Lấy Nước Ngọt Trong Biển", ta thấy những dòng mô tả về kỹ thuật lọc nước biển: "Trước hết sai thợ mộc đóng một cái thùng to, cao độ 5 thước (khoảng 2m), bề to sao cho xứng, chu vi kiên cố, nước không rỉ được. Đục 5, 6 lỗ nhỏ ở đáy thùng, lấy vải trắng lụa mới trải ở đáy thùng phía trên lỗ. Xong rồi mới ra bãi cát ven biển đào một hốc to, thấy nước trong chảy ra, uống thấy ngọt thì lấy cát chỗ ấy chứa vào trong thùng, chừa trên miệng thùng nửa thước. Lại làm một cái chậu gỗ cao ước 1 thước (khoảng 40 cm) to bằng miệng cái thùng kia, đem chậu ấy để dưới thùng, rồi để cả vào trong thuyền. Đến khi qua biển, sai quân múc nước biển dội vào trong thùng gỗ lên trên cát; nên cho nước biển chảy dần dần xuống, chở cho chảy mạnh, làm như cách lọc nước; như thế thì nước biển thấm xuống đáy thùng mà gạn vào chậu, tự mất vị mặn mà thành vị ngọt, không khác gì nước giếng, dùng để giải khát cho ba quân".
Trong sách Kỹ Nghệ Người An Nam của Henry Oger tập hợp hình ảnh về tập quán của người dân Hà Nội và vùng phụ cận năm 1910, có một bức vẽ tiêu đề "lọc nước hàm" 渃鹹 (lọc nước mặn). Tranh thể hiện một người phụ nữ đang cầm gáo rót nước vào một bình lọc chứa đầy cát, đáy bình có một lỗ cho nước sạch chảy vào chiếc nồi dưới đáy bình.
Về nguyên lý, đây chính là phương pháp lọc nước dùng cát chậm mà thời nay vẫn sử dụng.
Lọc nước hàm trong sách "Kỹ thuật của người An Nam" của Henry Oger.
Thú vị là sự tồn tại của cả bơm nước và hệ thống lọc chậm đều được sử liệu Triều Tiên xác nhận. Năm 1774, một Nho sinh Triều Tiên là Jang Han-cheol xuất phát từ đảo Jeju, trôi dạt đến Lưu Cầu (Ryukyu), và sau đó được một thuyền của An Nam, trên hải trình sang Nhật Bản, cứu giúp. Ông đã ghi chép những điều mắt thấy tai nghe trên tàu An Nam trong hồi ký Phiêu Hải Lục [15].
Ông miêu tả máy bơm như sau: "Nước tràn vào đáy thuyền thành xoáy, từ trong thùng gỗ sẽ bơm ra ngoài thuyền như thác đổ. Đại để thùng gỗ cao hơn 2 trượng (khoảng 7m). Chu vi tròn 1 vòng tay người ôm mà trên to dưới nhỏ, như hình cái loa. Bên trong thông với bên ngoài. Thẳng xuống dưới có 2 vòng tròn. Cầm vào 2 vòng đó, trái phải xoay tròn, miệng thì hò ca thì nước trong đáy thuyền đều theo thùng gỗ mà phun ra ngoài. Hình dáng xếp đặt của máy đó toàn cực kỳ tinh xảo, có được cũng không hiểu quy củ ra sao". Nguyên tắc bơm mà tác giả tường thuật khá giống với bơm guồng (bilge chain pump) vận hành bằng tay trên thuyền buồm phương Tây thế kỷ 18.
Về hệ thống lọc, Jang Han-cheol miêu tả: "Lại có 1 vật lớn bằng chục chum đá mà bên trên thì tròn, bên dưới thì vuông. Bên hông có 1 lỗ đóng đinh bằng gỗ tử du. Có 1 cần to bịt lỗ. Nhổ đinh ra thì nước phun trào. Trên vật đó có chữ triện nhỏ mà không hiểu nổi. Lâm Tuân viết để chỉ rằng vật đó là đồ chứa nước. Thuyền đi trên biển khó kiếm nước ngọt. Nước trong đồ đó không cạn kiệt được mà đổ thêm vào không tràn được".
Như vậy những công nghệ này hoàn toàn là xác thực, được kiểm chứng qua sử liệu khách quan của nước ngoài. Đáng chú ý, trong tài liệu đó, có thể thấy rõ sự ngạc nhiên và thán phục của Jang Han-cheol đối với công nghệ trên thuyền An Nam dù bản thân ông xuất thân là dân hải đảo của một đất nước cũng có truyền thống đóng thuyền lâu đời.
-*-
Nhìn lại lịch sử hàng hải và đóng thuyền Việt Nam thời xưa, có thể thấy mỗi thời đại đều để lại những mốc son riêng, phản ánh khả năng thích nghi, sáng tạo và tư duy hướng biển của người Việt. Đặc biệt, một số công nghệ như thuyền bọc đồng, mãnh hỏa du không chỉ dừng lại trong mảnh đất hình chữ S mà đã lan tỏa ra thế giới.
Những thành tựu ấy cũng nhắc rằng ông cha ta đã có truyền thống đi biển, khám phá và phát triển các kỹ thuật đi biển phù hợp với điều kiện nhiệt đới, chứ văn hóa Việt Nam chưa bao giờ chỉ khu trú trong ruộng đồng hay núi non.
---
Tài liệu tham khảo:
[1] Peter Bellwood, Judith Cameron, Nguyen Van Viet, Bui Van Liem, (2007), "Ancient Boats, Boat Timbers, and Locked Mortise-and-Tenon Joints from Bronze/Iron-Age Northern Vietnam", The International Journal of Nautical Archaeology, 36.1: 2–20, tr. 17-18
[2] Gốc là 江中有越王所鑄銅船,潮水退時,人有見之者. Trích từ Lịch Đạo Nguyên. Thủy kinh chú (水經注). Trong Ảnh ấn cổ tịch: Khâm định Tứ khố toàn thư – Sử Bộ 11 – Địa lý Loại (影印古籍《欽定四庫全書·史部十一·地理類》). Thư viện Đại học Chiết Giang. Truy cập ngày 10/6/2025.
[3] Gốc là 越人鑄銅爲船在江潮退時見. Trích từ Lưu Hân Kỳ (劉欣期). Giao Châu ký (交州記). Bản "Lĩnh Nam di thư" (嶺南遺書本) niên hiệu Đạo Quang 30 [1850]. Truy cập ngày 8/7/2025. https://zh.wikisource.org/zh-hant/交州記_(嶺南遺書本)
[4] Gốc là 每歲,廣州常發銅船過安南,貨易路經調黎. Trích từ Lưu Tuân (劉恂). Lĩnh biểu lục dị (嶺表錄異). Bản điện tử trên Chinese Text Project. https://ctext.org/library.pl?if=en&res=78439. Truy cập ngày 8/7/2025.
[5] Joseph Needham, 1965, "Khoa học và văn minh ở Trung Hoa", tập 4, phần III, tr. 442.
[6] J. B. Pietri, "Thuyền buồm Đông Dương", dịch giả Đỗ Thái Bình, 2015, NXB Trẻ, tr. 61.
[7] Thái Đình Lan 蔡廷蘭, "Hải Nam Tạp Trước" 海南雜著, https://ctext.org/wiki.pl?if=gb&chapter=363116, truy cập ngày 17/4/2022
[8] John White, 1824, "A Voyage to Cochin China", Longman, Hurst, Rees, Orme, Brown, and Green, tr. 56.
[9] Tim Severin, 1994, "The China Voyage : A Pacific Quest by Bamboo Raft", (sách tiếng Việt: "Bè Tre Việt Nam Du Ký: 5500 Dặm Vượt Thái Bình Dương", NXB Trẻ, 2014)
[10] Gốc là 張舟自創新意。造艨艟舟四百餘隻. 每船戰手二十五人。掉手三十二人. 車弩一支。兩弓弩一支. Trích từ Vương Phổ 王溥, "Đường Hội Yếu, quyển thất thập tam" 唐會要 - 卷七十三, https://ctext.org/wiki.pl?if=gb&chapter=110335&searchu=%E5%AE%89%E5%8D%97, truy cập ngày 31/12/2022.
[11] Trương Thế Nam 張世南, "Du hoạn kỉ văn" 游宦紀聞, Trung Quốc, https://ctext.org/wiki.pl?if=gb&res=681489, truy cập ngày 12/10/2022
[12] Tôn Tốn, Trịnh Khắc Mạnh và Trần Ích Nguyên, 2011, "Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tập thành", Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, tập 17, tr. 103.
[13] Joseph Needham, 1965, "Khoa học và văn minh ở Trung Hoa", tập 4, phần III, tr. 442.
[14] Alexandre de Rhodes, 1651, "Từ điển Việt–Bồ–La", tr.783.
[15] Jang Han-cheol, Phiêu Hải Lục (漂海錄), 1774, bản ký hiệu UCI G701:B-00047969348, thư viện quốc gia Hàn Quốc, tr. 43-44.