Trong kho lưu trữ của University College London (UCL) có một chiếc hộp kim loại dài hơn ba mươi centimet. Mở hai khóa nhỏ bên cạnh, người ta thấy ba mươi mẫu tóc nhân tạo được xếp theo màu và độ xoăn: vàng, nâu, đỏ, đen; thẳng, lượn sóng, xoăn. Trên nắp hộp là dòng chữ Đức Haarfarben Tafel - bảng đo màu tóc - và tên của Eugen Fischer, nhà nhân học người Đức đã dùng những đặc điểm như màu tóc, màu mắt để củng cố quan niệm rằng "chủng tộc" có thể được quan sát, phân loại dựa trên nền tảng sinh học.
Nhà sử học văn hóa, giám tuyển bảo tàng Subhadra Das mở màn cuốn sách Phi văn minh: Mười lời nói dối tạo nên phương Tây (Uncivilised: Ten Lies That Made the West) bằng những thứ có thể cầm, nhìn, xem, đo tương tự chiếc hộp Eugen Fischer: kỳ thi tuyển công chức, cây bút, đồng hồ bỏ túi, bộ luật, nhãn trưng bày trong bảo tàng... Từ những vật thể rất cụ thể ấy, Das lần ngược tới những hệ phân loại đã khiến một số nhóm người, tri thức và lối sống được tôn lên thành "văn minh", còn phần còn lại bị gạt ra ngoài đường biên.
Bản tiếng Việt cuốn sách Phi văn minh: Mười lời nói dối tạo nên phương Tây. Ảnh: KĐ
Tên phụ đề "Mười lời nói dối" dễ khiến người đọc nghĩ đây là cuốn sách lật tẩy mười mệnh đề sai. Das đặt vấn đề phức tạp hơn. Những "lời nói dối" phần lớn là những lời hứa đẹp đến mức đã bám sâu vào tưởng tượng hiện tại: tri thức tạo ra sức mạnh, cây bút mạnh hơn thanh kiếm, công lý không thiên vị, quyền lực thuộc về nhân dân.
Cuộc truy tìm lịch sử thực hiện những lời hứa ấy như thế nào, ai được hưởng lợi, ai bị gạt ra ngoài, dẫn tác giả đến một so sánh: "văn minh phương Tây" giống như một thương hiệu, nơi câu chuyện tự kể lấn át hiện thực. Nhiều giá trị nền tảng của văn minh phương Tây - từ khoa học, giáo dục và quốc gia đến công lý, dân chủ, thời gian, nghệ thuật và chủ nghĩa cá nhân - thường được trình bày như những chân lý tự thân, trong khi lịch sử hình thành và phổ biến chúng lại gắn chặt với đế quốc, giai cấp, chủng tộc và các quan hệ quyền lực.
Một thương hiệu thành công khi người ta nhận ra logo của nó mà chẳng còn nhớ nó đã được tạo ra như thế nào. Với văn minh phương Tây, bước chuyển biến sâu hơn xảy ra khi chính logo cũng không còn cần thiết: các giá trị từng thuộc về một lịch sử cụ thể của phương Tây bắt đầu được nhìn như những phẩm chất hiển nhiên của các xã hội hiện đại.
Bộ nhận diện của "văn minh"
Một thương hiệu cần những dấu hiệu để người ta lập tức nhận ra nó. Khi đủ mạnh, nó còn tạo ra cảm giác thuộc về: ai ở trong, ai ở ngoài. Sâu xa hơn, những dấu hiệu ấy sẽ kéo theo cả một chùm liên tưởng. Ai được nhận diện thuộc về "thương hiệu" ấy được mặc nhiên gán cho những phẩm chất mà thương hiệu đã tích lũy mà trong câu chuyện về "văn minh phương Tây", đó là "có học", "tiến bộ", "văn minh".
Tác phẩm sắp đặt Chiếc xích đu (phỏng theo tranh cùng tên của Jean-Honoré Fragonard) do Yinka Shonibare sáng tác năm 2001, đặt câu hỏi: "văn hóa châu Phi" và "văn hóa châu Âu" thực sự tách biệt đến đâu. Ảnh: Transpond
Từ cuối thế kỷ XVII, giáo dục cổ điển, với trọng tâm là văn hóa Hy-La, dần trở thành dấu hiệu nhận diện một kiểu "quý ông Anh" mới. Những người được đào tạo bài bản trong hệ thống trường lớp chính quy, thành thạo tiếng Latin và Hy Lạp ("ngôn ngữ giao tiếp trí tuệ giữa những người văn minh" theo cách gọi của nhà triết học John Grote), cùng chia sẻ một vốn văn hóa chung giúp họ nhận ra nhau như tầng lớp có học. Nói cách khác, ngay tại nước Anh, giáo dục đã làm nhiệm vụ phân tầng trước khi đảm nhận thêm chức năng khai hóa thuộc địa.
Đến thế kỷ XIX, vốn văn hóa có thêm chức năng đế quốc: người bản địa muốn bước vào bộ máy cai trị trước hết phải học cách nhìn tri thức qua hệ quy chiếu của chính quốc. Chẳng hạn, những kỳ thi tuyển công chức Ấn Độ giữa thế kỷ XIX dành trọng số cho tiếng Latin và Hy Lạp cổ cao gấp đôi Sanskrit và Arabic. Một ứng viên bản địa đọc được thơ Virgil bằng tiếng Latin vì thế có thể được đánh giá cao hơn người hiểu ngôn ngữ của chính xã hội Nam Á mà mình sẽ chịu trách nhiệm quản trị.
Chữ viết là một trường hợp tương tự. Das nhắc rằng phần lớn văn bản cổ không phải những thiên sử thi huy hoàng mà là sổ sách, thuế, cống nạp, điều tra dân số - giấy tờ hành chính của những xã hội đã biến chữ viết thành phương tiện quản trị. Viết tạo ra hồ sơ, quyền sở hữu, và một thứ đặc biệt quan trọng: bằng chứng lịch sử. Khi chữ viết được nâng thành dấu hiệu của "văn minh", những xã hội không để lại văn bản theo chuẩn quen thuộc rất dễ bị hiểu thành những xã hội không có lịch sử. Tất cả những ghi chép thành văn còn lại về nền văn minh Inca đều có sau cuộc chinh phục của Tây Ban Nha; ta biết họ phần lớn qua những người đã chinh phục họ. Từ đó Das bẻ lại câu "cây bút mạnh hơn thanh kiếm": cây bút thường chỉ mạnh khi người cầm nó đồng thời có thanh kiếm.
Das không phủ nhận giá trị của giáo dục, tiếng Latin hay chữ viết. Điều bà bóc ra là quá trình một công cụ, một loại tri thức hoặc một thực hành cụ thể tích lũy thêm những ý nghĩa vốn không nằm sẵn trong nó. Một khi lịch sử của những liên tưởng ấy bị che lấp - dù cố tình hay không- thương hiệu bắt đầu mang vẻ "hiển nhiên".
Những thứ từng được mặc định là một
Khi một thương hiệu đủ mạnh, những giá trị gắn với nó sẽ nội hóa cách người ta hành xử và tự trình hiện bản thân. Với "văn minh", Das tìm thấy quá trình ấy trong cách con người hiện đại sống cùng thời gian.
Thời gian được chia nhỏ thành giờ, phút, giây rồi gắn với sản lượng và hiệu suất. Thật khó hình dung một thế giới hiện đại trong đó "đúng giờ", "tiết kiệm thời gian" hay "phí thời gian" chưa từng có nghĩa như ngày nay.
Tác phẩm A Subtlety do Kara Walker sáng tác năm 2014 là một tượng nhân sư khổng lồ phủ đường đặt trong nhà máy đường Domino cũ ở Brooklyn, đặt sự giàu có của ngành đường đối diện với lịch sử lao động cưỡng bức, chế độ nô lệ và bóc lột người da đen đã tạo nên sự giàu có ấy. Ảnh: Wikicommons
Cuối thế kỷ XIX, gia đình Belville kiếm sống bằng một nghề khá lạ: bán giờ chính xác. Họ đồng bộ chiếc đồng hồ với giờ chuẩn tại Đài thiên văn Greenwich rồi mang nó tới các khách hàng ở London - ga tàu, ngân hàng, tòa soạn, nhà máy, quán rượu, hiệu đồng hồ. Vài phút chênh lệch đã bắt đầu có giá trị kinh tế.
Sự chính xác ấy đi cùng một kiểu tổ chức đời sống mới. Trước công nghiệp hóa, lao động nông nghiệp chịu nhịp mùa vụ, ánh sáng và thời tiết; người lao động có khoảng linh hoạt tương đối lớn trong việc chia thời gian làm việc và nghỉ ngơi. Dây chuyền sản xuất đòi hỏi một trật tự khác. Một người đến muộn có thể làm cả chuỗi phía sau ngừng lại. Mọi người phải xuất hiện cùng lúc, bắt đầu cùng lúc, nghỉ cùng lúc. Đồng hồ từ chỗ là dụng cụ đo dần trở thành thiết bị tổ chức tập thể.
Đầu thế kỷ XX, logic ấy còn được đẩy vào từng chuyển động cơ thể. Với chiếc đồng hồ bấm giờ, công nhân được đo mất bao lâu để khiêng gang, xúc vật liệu, dùng một chiếc xẻng. Chuyển động của cơ thể của họ thậm chí còn được quay phim để tìm những động tác "thừa". Công việc được chia thành những đơn vị có thể đo, so sánh và tối ưu hóa; và những phương pháp ấy nhanh chóng rời nhà máy để đi vào bệnh viện, ngân hàng, văn phòng, rồi bước tiếp vào những hoạt động thường ngày.
Từ đó, một phong cách sống bắt đầu hình thành quanh những phẩm chất như đúng giờ, hiệu quả, bận rộn, năng suất. Chúng dần mang giá trị biểu trưng: nói cho người khác biết ta là kiểu người nào, và cũng cho chính ta biết mình có đang sống "đúng" hay không.
Das nối lịch sử ấy với nghịch lý của hôm nay: bận rộn trở thành dấu hiệu địa vị. Lịch kín có thể được hiểu như bằng chứng một người quan trọng và năng suất. Năm 1930, kinh tế gia John Maynard Keynes từng hình dung tiến bộ công nghệ sẽ làm thời gian lao động giảm mạnh; năm 1964, tạp chí Life còn lo con người tương lai sẽ không biết làm gì với quá nhiều thời gian rảnh. Nửa thế kỷ sau, một ngày làm việc có thể kéo dài đến tối qua email, những yêu cầu phản hồi tức thời, và vô số chỉ số hiệu suất.
Nếu thương hiệu sống bằng việc làm cho một chuỗi liên tưởng trở nên tức thì - Latin là có học, chữ viết là văn minh, đúng giờ là chuyên nghiệp, thì Das tìm hiểu điều ngược lại. Bà phá vỡ sự liên tưởng tức thì ấy, chỉ ra lịch sử và những quan hệ quyền lực phía sau những thứ mà lâu nay nhiều người mặc nhiên coi là một: Latin và có học, chữ viết và văn minh, thời gian và địa vị.
"Logo văn minh" biến mất nhưng mạng lưới liên tưởng còn nguyên
Phần cuối cuốn sách đặt ra vấn đề thiết thực với những dân tộc từng bị "khai hóa": điều gì xảy ra khi tên gọi cũ biến mất mà cách nhìn do nó tạo ra vẫn còn?
Bộ sưu tập của Pitt Rivers Museum, bảo tàng nhân học và khảo cổ học thuộc Đại học Oxford, được xây dựng theo tham vọng bách khoa: vô số hiện vật từ khắp thế giới được đặt cạnh nhau, sắp xếp thành những chuỗi nhằm kể một câu chuyện về lịch sử và sự phát triển của con người. Hiện vật là dữ liệu; nhưng trật tự của dữ liệu luôn phụ thuộc vào nhãn quan của người sắp xếp.
Trong hồ sơ của Pitt Rivers từng tồn tại những mục phân loại như "human form in savage art" (hình dáng con người trong nghệ thuật man di), "barbaric art" (nghệ thuật man di) và "civilised art" (nghệ thuật văn minh). Những nhãn ấy về sau biến mất. Tuy nhiên, phân tích danh mục hiện vật mà Das dẫn lại cho thấy các từ "modern" (hiện đại) và "civilised" (văn minh) vẫn chủ yếu gắn với hiện vật châu Âu, trong khi "lazy" (lười biếng), "inferior" (hạ đẳng) và "barbaric" (man rợ) tập trung ở các hiện vật từ châu Phi, châu Đại Dương và châu Mỹ.
Pitt Rivers cung cấp cho Das một trường hợp gần như hoàn hảo về tuổi thọ của thương hiệu. Những nhãn thô bạo nhất có thể được tháo xuống; nhưng cái khó tháo hơn là những liên tưởng mà chúng đã tạo ra sau hàng chục năm đứng cạnh nhau. "Civilised" từng là một cái nhãn mà sức mạnh của nó đến từ cả một mạng lưới liên tưởng đi kèm: châu Âu, hiện đại, lý tính, phát triển. Bởi vậy, bỏ một vài chữ khỏi tủ kính chẳng thể làm thương hiệu biến mất.
Thành công lớn nhất của thương hiệu "văn minh" phải chăng nằm ở chỗ hầu hết nhân loại (kể cả người phương Tây) không còn nhận ra nó là thương hiệu được dựng lên từ cả những hạnh phúc và khổ đau tột độ suốt vài thế kỷ trở lại đây. Nếu vậy, từ chối quên lãng là cách hữu hiệu nhất để trả lại nguyên nghĩa cho gốc từ "civil" - những công dân cùng kiến tạo ra một cộng đồng dành cho mình và cho mọi người.