Từ sau công cuộc Đổi mới năm 1986, đô thị hóa (quá trình con người di cư từ nông thôn ra thành thị, dẫn đến sự mở rộng và phát triển của các đô thị) và công nghiệp hóa (quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp sang dựa vào sản xuất công nghiệp) tại Việt Nam đã diễn ra nhanh chóng.
Dù giúp nâng cao mức sống và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đô thị hóa và công nghiệp hóa kéo theo tiêu thụ năng lượng lớn, phát thải CO₂, và những hoạt động ô nhiễm môi trường khác.
Tại Việt Nam, từ năm 1985 đến 2021, dân số đô thị đã tăng từ khoảng 12 triệu người lên hơn 37 triệu người. Cũng trong giai đoạn đó, lượng phát thải CO2 đã tăng 15 lần - từ 17,4 triệu tấn lên 272,7 triệu tấn, theo Báo Điện tử Chính phủ.
![]() |
Đô thị hoá và công nghiệp hoá tác động cả tích cực lẫn tiêu cực lên môi trường. Ảnh minh hoạ: iStock |
Trước bối cảnh đó, một nhóm nhà nghiên cứu ở Trường Đại học Mở TPHCM đã tiến hành khảo sát tác động của đô thị hóa và công nghiệp hóa đến chất lượng môi trường tại Việt Nam.
Nghiên cứu sử dụng các dữ liệu về lượng phát thải CO₂ bình quân đầu người, GDP bình quân đầu người, mức đóng góp của các ngành công nghiệp và chế tạo vào tổng GDP và tốc độ tăng trưởng dân số đô thị hằng năm, được trích từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (World Bank) trong giai đoạn 1985- 2021.
Kết quả cho thấy, GDP bình quân đầu người đã tăng khoảng sáu lần, từ 479 lên 3.373 USD/người. Cùng với đó là sự gia tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và chế tạo trong cơ cấu GDP, từ gần 8% đến hơn 40%. Tốc độ tăng trưởng dân số đô thị tăng dần - từ 2,53% lên 3,96%/năm. Và các thống kê cho thấy lượng phát thải CO₂ tăng khoảng 10 lần trong giai đoạn này - từ 0,25 lên 3,03 tấn CO₂/người/năm, với mức bình quân trong toàn giai đoạn là là 1,06 tấn CO2/ người/năm.
Những phân tích sâu hơn chỉ ra rằng, trong ngắn hạn (từ 1-3 năm), các hoạt động công nghiệp có xu hướng làm giảm khí thải CO₂, mặc dù tác động này khá yếu. Khi tỷ trọng các ngành công nghiệp trong GDP tăng 1%, lượng CO2/người sẽ giảm 1,29%. Khi các ngành chế tạo trong GDP tăng 1%, lượng CO2/người sẽ giảm 0,66%. Trong khi đó, mức tăng 1% của dân số đô thị có tác động khiến lượng CO2/người tăng khoảng 0,69% đến 1,1%.
Về dài hạn (từ trên 7 năm), sự gia tăng 1% tỷ trọng các ngành công nghiệp trong GDP sẽ khiến mức CO2/người tăng 1,67%. Ngược lại, sự gia tăng 1% tỷ trọng các ngành chế tạo trong GDP và dân số đô thị sẽ khiến lượng CO2 này giảm lần lượt là 0,64% và 1,25%.
Có thể thấy, hoạt động chế tạo góp phần làm giảm CO2 trong cả ngắn và dài hạn. Đô thị hóa làm tăng phát thải trong ngắn hạn do quá trình mở rộng đường sá, phương tiện giao thông, công trình và cơ sở hạ tầng đô thị làm giảm sự lưu thông không khí, dẫn đến tích tụ chất thải độc hại và ô nhiễm không khí, đặc biệt là ô nhiễm bụi. Tuy nhiên, trong dài hạn, tác động tiêu cực này sẽ biến mất.
Công nghiệp hóa dù giúp làm giảm CO2 trong ngắn hạn, nhưng nếu không có chính sách phù hợp, Việt Nam sẽ đối mặt với suy thoái môi trường nghiêm trọng hơn trong dài hạn. Hoạt động công nghiệp góp phần làm tăng phát thải CO₂, khói bụi, xả thải chưa qua xử lý và rò rỉ năng lượng. Tăng trưởng nhanh về sản lượng công nghiệp gắn liền với ô nhiễm đất, nước và không khí.
Vì vậy, các tác giả đề xuất cần xem xét lại mô hình kinh tế nhằm đạt được hai mục tiêu song song: tăng trưởng kinh tế bền vững và cải thiện chất lượng môi trường. Các vấn đề môi trường cần được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chính sách kinh tế – xã hội được ban hành và thực hiện.
Nghiên cứu được đăng trên SAGE Open(Q1 SCImago).
Nguồn:
https://journals.sagepub.com/doi/full/10.1177/21582440241258285
Diễm Quỳnh
