Ngày 16/9, Trường Đại học Kinh tế - ĐH Quốc gia Hà Nội đã phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đồng tổ chức hội thảo "Động lực cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên mới". Những tham luận và thảo luận tại đây xoay quanh việc đánh giá khả năng tăng trưởng ở mức cao của nền kinh tế Việt Nam và những cơ hội, thách thức có thể gặp phải.
![]() |
Ông Nguyễn Đức Hiển - Phó trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh: Diễm Quỳnh. |
Theo TS. Nguyễn Quỳnh Trang - Khoa kinh tế chính trị, Trường Đại học Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội, Việt Nam đối mặt với cả những vấn đề trong ngắn hạn và dài hạn khi hướng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8% trong năm 2025 và cao hơn nữa trong tương lai.
Cụ thể, những con số nghiên cứu cho thấy tiêu dùng của các hộ gia đình vẫn giữ tỷ trọng đóng góp khá lớn vào GDP (hơn 60%) nhưng có xu hướng giảm nhẹ từ năm 2020. Trong khi đây là một yếu tố đóng góp vào phát triển kinh tế trong ngắn hạn - bên cạnh tiêu dùng chính phủ, đầu tư tư nhân và đầu tư chính phủ, xuất khẩu ròng. Nguyên nhân được TS. Trang chỉ ra là do "sau đại dịch Covid, xu hướng tiết kiệm và phòng ngừa tăng lên". Nhu cầu tiêu dùng yếu hơn cũng sẽ khiến đầu tư gặp khó khăn hơn.
Ngoài ra, chỉ số ICOR (Incremental Capital-Output Ratio) từ 2012 đến 2024 đều trên 5%, trong đó, giai đoạn 2021-2022 ở mức trên 10%, cho thấy "hiệu quả đầu tư còn hạn chế"- theo TS. Trang.
Xuất khẩu đã được cải thiện từ nhập siêu sang thặng dư thương mại và bắt đầu đóng góp vào GDP từ năm 2012. Tuy nhiên, "những diễn biến gần đây cho thấy xuất khẩu có xu hướng chậm lại do căng thẳng thương mại và có xu hướng sụt giảm trong thời gian tới do nhu cầu toàn cầu suy yếu" - TS. Trang trình bày tại hội thảo.
Xét về dài hạn, những yếu tố góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bao gồm vốn (trong đó có tài sản cố định, trái phiếu, cổ phiếu, tiền mặt); số lượng và chất lượng lao động; TFP (Total Factor Productivity) - một chỉ tiêu thể hiện thể hiện tác động của công nghệ, quản lý, tổ chức sản xuất, trình độ lao động, đổi mới sáng tạo, thể chế... đến tăng trưởng.
Những số liệu từ năm 1995 đến 2024 cho thấy vốn vẫn là yếu tố chiếm tỷ trọng lớn nhất trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Trong đó, tỷ lệ tài sản cố định - yếu tố quan trọng của vốn đầu tư, có thể bao gồm máy móc, thiết bị dùng cho sản xuất hay cơ sở hạ tầng hỗ trợ sản xuất - chiếm khoảng 30% GDP. Khoản đầu tư này ổn định ở mức tương đối cao so với khu vực, cho thấy Việt Nam đang có những nỗ lực để duy trì sản xuất phục vụ cho tăng trưởng, đồng thời chỉ ra rằngphát triển kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn còn phụ thuộc nhiều vào vốn - TS. Trang nhận xét.
![]() |
TS. Nguyễn Quỳnh Trang trình bày bài tham luận tại hội thảo. Ảnh: Diễm Quỳnh. |
Về yếu tố lao động, Việt Nam đang dần đi đến cuối khoảng thời kỳ dân số vàng (1980-2032), và chất lượng lao động sẽ trở nên quan trọng cho tăng trưởng. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của Việt Nam đã tăng hai lần từ 2010 đến 2024, từ 14% lên 28%, cho thấy những nỗ lực cải thiện chất lượng lao động. Tuy nhiên, "đóng góp của chất lượng lao động vào tăng trưởng vẫn còn rất khiêm tốn. Và tỷ lệ lao động qua đào tạo vẫn thấp so với các nước trong khu vực".
Đánh giá về TFP được tiếp cận thông qua chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển, TS Trang chỉ ra, tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam vẫn còn ở mức "rất thấp", khoảng 0,4 đến 0,5% GDP. "Trong khi đó các nước trong khu vực chi khoảng 1% cho nghiên cứu và phát triển và các nước phát triển, như Hàn Quốc, chi 2%" - TS. Trang giải thích thêm.
TS. Trang đề xuất một số giải pháp thúc đẩy tăng trưởng như hỗ trợ tiêu dùng nội địa thông qua giảm thuế VAT, mở rộng tín dụng tiêu dùng, kích cầu du lịch và dịch vụ; đẩy nhanh giải ngân đầu tư công để tạo hiệu ứng lan tỏa; đổi mới máy móc, ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số để nâng hiệu quả quản lý, sản xuất; đẩy mạnh đào tạo nghề, trang bị kỹ năng số, AI, quản trị hiện đại cho lực lượng lao động...
Diễm Quỳnh

