
Theo một báo cáo từ Officience năm 2023, phụ nữ chiếm khoảng 37% trong lực lượng lao động STEM tại Việt Nam, cao hơn mức trung bình toàn cầu nhưng vẫn phản ánh rõ sự chênh lệch giới tính trong ngành này. Ảnh: digital.fpt.com
Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực đấu tranh cho bình đẳng giới trong các ngành STEM (Science- khoa học, Technology - công nghệ, Engineering - kỹ thuật, Mathematics - toán học) trên thế giới, phụ nữ vẫn bị phân biệt đối xử trong các lĩnh vực này. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, các công bố của phụ nữ được trích dẫn ít hơn, trung bình các khoản tài trợ cho phụ nữ nhỏ hơn và bài báo của họ phải chịu đánh giá khắt khe hơn từ những nhà bình duyệt so với nam giới. Có nhà khoa học nữ từng nhận được "lời phê" từ các nhà bình duyệt về bài báo của mình: "Tác giả chính là phụ nữ, cô ấy nên ở trong bếp chứ không phải viết báo"1.
Ở Việt Nam, hẳn nhiều người cũng đã nghe những định kiến cho rằng con gái chỉ nên học ngành kinh tế, xã hội cho "đỡ vất vả", cho "nữ tính"; còn nếu theo những ngành kĩ thuật thì "khô khan", "khó lấy chồng". Tuy vậy, hiện nay rất ít nghiên cứu cho thấy những phân biệt giới này nghiêm trọng ra sao và tác động như thế nào tới cuộc sống và lựa chọn nghề nghiệp của phụ nữ trong ngành STEM ở nước ta. Khảo sát của chị Phạm Nguyễn Đan Tâm, hiện đang là nghiên cứu sinh tại Đại học Ohio (Mỹ) và các cộng sự, đăng trên tạp chí Social Science and Medicine- Mental Health (Nhà xuất bản Elsevier) là một trong số đó2.
Nghiên cứu thực hiện khảo sát online với 148 phụ nữ và người chuyển giới đã hoạt động trong lĩnh vực STEM ít nhất một năm tính đến thời điểm làm nghiên cứu, từ đó, đưa ra kết quả về tần suất gặp các tình huống phân biệt giới tính, cũng như ảnh hưởng của các trải nghiệm này đến sức khỏe tinh thần của phụ nữ.
Phân biệt giới tính là một vấn đề tiềm ẩn
Các nhà tâm lý học phân loại các hành vi phân biệt giới tính thành hai kiểu: phân biệt giới tính chống đối (hostile sexism) và phân biệt giới tính nhân từ (benevolent sexism). Phân biệt giới tính chống đối gồm thái độ đối kháng tiêu cực với phụ nữ, xem thường họ, nghĩ rằng họ thấp kém hơn nam giới. Kiểu phân biệt này được thể hiện qua các hành vi như phớt lờ ý kiến đóng góp của phụ nữ, bực bội khi họ đạt được kết quả tốt hơn...
Phân biệt giới tính nhân từ thường tinh vi hơn, thể hiện dưới "vỏ bọc" tôn vinh trách nhiệm làm vợ, làm mẹ, chăm sóc gia đình...của phụ nữ, đề cao sự "ga-lăng" của nam giới, ngầm ý rằng phụ nữ yếu đuối, cần được nam giới bảo vệ. Tưởng chừng như vô hại nhưng tư tưởng phân biệt giới tính nhân từ hạn chế nhiều cơ hội làm việc của vụ nữ, do chỉ "đóng khung" họ trong một số vai trò nhất định.
Chị Đan Tâm cho biết sẽ tiếp tục những nghiên cứu về bình đẳng giới, một nghiên cứu mà chị và các cộng sự đang trong quá trình thực hiện có liên quan tới khác biệt trong điểm thi của các học sinh nữ và học sinh nam trong lĩnh vực STEM. |
Nghiên cứu của chị Phạm Nguyễn Đan Tâm đã cho thấy mối tương quan giữa tần suất trải nghiệm phân biệt giới tính và sức khỏe tâm thần của phụ nữ. Nghĩa là, tần suất trải qua những tình huống phân biệt giới tính càng nhiều, sức khỏe tâm thần của những phụ nữ trong môi trường STEM càng bị ảnh hưởng tiêu cực. Đặc biệt, số lần trải qua những tình huống phân biệt giới tính chống đối là một trong số các nguyên nhân dẫn đến sự sa sút sức khỏe tâm thần của phụ nữ.
Mặc dù nghiên cứu này chưa khẳng định được mối quan hệ tương tự với phân biệt giới tính nhân từ. nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc kiểu phân biệt này không trực tiếp tác động tới tâm lý phụ nữ. Chị Đan Tâm cho rằng, có thể do quy mô nghiên cứu vẫn còn khiêm tốn hay có nhiều "biến số" khác giữa mối liên hệ giữa phân biệt giới tính nhân từ và sức khỏe tâm thần chưa được đề cập mà ta chưa thấy mối liên hệ "nhân-quả" này.
Những người tham gia trải qua những tình huống phân biệt giới tính nhân từ trung bình 1 lần/ tháng và dưới 1 lần/ tháng với phân biệt chống đối. Mức độ căng thẳng nằm trong khoảng từ 1.5 đến 2.2 trên thang điểm 4, theo đánh giá của chị Đan Tâm thì "Đây là những con số cho thấy mức căng thẳng thấp"
Về tần suất của những trải nghiệm, chị cũng nói thêm rằng: "Nếu chỉ nhìn vào con số 1 lần/ tháng hay dưới 1 lần/ tháng thì sẽ thấy những sự việc này xảy ra không nhiều. Nhưng cũng cần xem xét liệu 1 lần đó sự việc xảy ra như thế nào, tùy vào mức độ sự việc mà xảy ra 1 lần/ tháng cũng có thể gây nên ảnh hưởng lớn chẳng hạn." Chị Đan Tâm cũng cho biết thêm, khi thu thập dữ liệu, chị cũng từng hỏi những người tham gia về việc họ xoay sở như thế nào trong những tình huống đó: có nhiều người đã không thể tiếp tục duy trì công việc cũ hoặc phải chuyển qua một phòng/ban khác hay hoàn toàn mất động lực làm việc.
. |
Ngoài ra, nghiên cứu cũng có những phát hiện về nhận thức của người tham gia với các trải nghiệm phân biệt giới tính. Số điểm nhận thức nằm trong khoảng từ 1.2 đến 2.2 trên thang điểm 4, những con số này cho thấy mức nhận thức thấp và những người tham gia "vẫn chưa nhận thức được những tình huống họ trải qua là định kiến và phân biệt giới".
Một điều đặc biệt là, khác với kết quả những nghiên cứu trước từng thực hiện ở Mỹ - nơi mà phân biệt giới tính chống đối tạo ra mức ảnh hưởng căng thẳng lớn hơn phân biệt giới tính nhân từ, thì nghiên cứu này là cả hai kiểu phân biệt giới tính đều cho thấy mức ảnh hưởng căng thẳng như nhau và đều ở mức thấp.
Cũng theo kết quả nghiên cứu, những phụ nữ trẻ gặp phải phân biệt giới tính nhiều hơn so với những phụ nữ lớn tuổi. Một nguyên nhân được chỉ ra là do những người phụ nữ trẻ thường bị đối xử kém tôn trọng hơn so với những phụ nữ đã dày dạn kinh nghiệm cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề. Bên cạnh đó, những phụ nữ trẻ ngày nay cũng hiểu biết tốt hơn về bình đẳng giới nên nhạy cảm và nhận diện tốt hơn những hành vi phân biệt đối xử nên đưa ra tần suất lớn hơn trong quá trình khảo sát.
Cần có những thay đổi
Dựa trên những trải nghiệm cá nhân của mình, chị Đan Tâm cho biết đã quan sát thấy có một số cách mà các các công ty STEM áp dụng như đưa ra những tuyên bố về xây dựng môi trường làm việc công bằng; tổ chức các khóa đào tạo cho các nhân viên để tránh mang theo những định kiến giới trong cách giao tiếp, làm việc thường ngày...
Tuy nhiên, theo ý kiến của chị Đan Tâm, giải pháp cốt lõi trước hết là doanh nghiệp phải tìm cách nắm bắt một cách rõ ràng và kịp thời tình trạng phân biệt giới tính trong doanh nghiệp của mình, liệu nhân viên của họ có trải qua các tình huống phân biệt giới tính hay không và những trải nghiệm đó có nghiêm trọng hay không. Chị Đan Tâm đề xuất rằng khảo sát có thể là một cách để những người quản lý bao quát vấn đề này. Các buổi phỏng vấn hay trò chuyện với nhân viên cũng là một cách có thể áp dụng ngay. "Để xác định giải pháp cho vấn đề thì trước tiên cần biết vấn đề đang xảy ra như thế nào đã, từ đó mới tìm được phương pháp phù hợp"- chị Đan Tâm nói.
Đánh giá về nghiên cứu này, chị Đan Tâm cho biết, nghiên cứu vẫn mới chỉ ở mức "khám phá" do số lượng người khảo sát còn khiêm tốn. Tuy nhiên, dù những con số về nhận thức mà mức căng thẳng hay nhận thức đang thể hiện những giá trị thấp, thì mối tương quan và mối quan hệ nhân quả giữa tần số trải qua phân biệt giới tính và sức khỏe tâm thần cho thấy "phân biệt giới tính vẫn có thể là một vấn đề với phụ nữ" và cần có những thay đổi để hạn chế vấn đề này. Đồng thời, chị Đan Tâm tiết lộ vẫn sẽ tiếp tục những nghiên cứu về bình đẳng giới, một nghiên cứu mà chị và các cộng sự đang trong quá trình thực hiện có liên quan tới khác biệt trong điểm thi của các học sinh nữ và học sinh nam trong lĩnh vực STEM.
Tham khảo:
[1] https://www.livescience.com/human-behavior/the-first-author-was-a-woman-she-should-be-in-the-kitchen-not-writing-papers-bias-in-stem-publishing-still-punishes-women
[2] https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2666560324000380
Bài đăng KH&PT số 1353 (số 29/2025)
Diễm Quỳnh