Ramayana và Mahabharata - hai tập sử thi vĩ đại của Ấn Độ - được coi là những itihasa, hay "sự thật là như vậy". Nói cách khác, với người Ấn Độ, chúng không chỉ là thần thoại, chúng là một phần của lịch sử.
Riêng Ramayana hiện có khoảng 300 phiên bản khác nhau được sưu tập. Trong số đó, cổ xưa hơn cả là phiên bản của thi sĩ Valmiki, cũng được truyền thống Ấn Độ coi là thi sĩ đầu tiên trên thế gian.
Sự tích Valmiki vì sao bắt đầu làm thơ cũng là một phần trong Ramayana. Valmiki xuất hiện ngay từ chương đầu của tập 1, ngài đi tìm câu chuyện về một con người cao quý nhất trong số những người sống trên thế gian, và được nhà hiền triết Narada thuật lại cho cuộc đời của Rama. Đến tập 7, tập cuối cùng, khi Sita bị lưu đày lần hai, nàng đã sống trong am ẩn tu của Valmiki, nuôi các con trưởng thành, và chính Valmiki đã dạy các con của Sita sử thi Ramayana. Lớn lên, lũ trẻ đi hát rong, hát đúng sử thi này, nhờ đó mà gặp lại người cha Rama. Rama xác nhận lời chúng hát là sự thật, itihasa. Như vậy, thậm chí có thể coi Ramayana thực chất là truyện lồng trong truyện: truyện Valmiki viết bài thơ về Rama. Chính thi sĩ chứng kiến bi kịch Sita, ông là chứng nhân lịch sử, sử thi này vì thế không chỉ là một huyền thoại.
Năm nay có thể coi là năm của nghệ thuật sử thi cổ đại. Người Mỹ vừa làm lại Odyssey của Homer, lại đến lượt người Ấn Độ đưa Ramayana lên màn ảnh. Làm Ramayana khó hơn Odyssey nhiều. Odysseus không phải thần, không phải á thần, mà chỉ là con người. Rama tuy mang thân phận người, nhưng kỳ thực chàng là hóa thân của thần Vishnu. Bốn anh em Rama, mỗi người được trao một phần linh khí của thần Vishnu, một trong ba vị thần lớn nhất theo vũ trụ quan Vệ-đà, là Đấng bảo hộ và duy trì sự tồn tại của vũ trụ, trong đó Rama được phần lớn nhất.
Cảnh phim Ramayana. Ảnh: Galaxy Studio
Rama quá hoàn hảo, sức mạnh của chàng vô song, đức hạnh của chàng vô kể, cái gì đẹp nhất đều thuộc về chàng, như ngay những dòng đầu tiên của sử thi đã giới thiệu: "Ai là người trong cõi hiện tại vừa đạo hạnh vừa cường tráng, vừa tận tụy với bổn phận, ghi nhớ những ân huệ được ban, chân thật trong lời nói, kiên định trong hành động... Ai là người luôn vì lợi ích của mọi chúng sinh, vừa khéo léo lại tài ba, dung mao vô cùng đẹp đẽ? Ai là người tự chủ, tự kiềm chế giận dữ, lại thông minh, không đố kỵ, ngay cả thần linh cũng sợ hãi khi bị thách đấu?"
Và một nhân vật hoàn hảo như thế thì khó để chuyển thể vào những hình thức nghệ thuật hiện đại như điện ảnh. Để kể được Rama, ta cần một trí tuệ tầm cỡ nhà văn Roberto Calasso, tác giả của Ka (1998), người đã diễn lại thần thoại Ấn Độ theo cách độc đáo chưa từng có. Nhưng đó là bởi ông là người đứng ngoài nhìn vào, không chịu gánh nặng về những diễn giải chính thống, chuẩn mực, nệ cổ, ông có thể lao vào thế giới thần thoại Ấn như một ngôi sao băng. Ông cho các vị thần tự nhiên xuất hiện trong hành động của mình, rồi sau đó lai lịch của họ mới lộ diện – đó là cách tiếp cận kiểu tiểu thuyết hiện đại, thay thế cách tiếp cận truyền thống là nhân vật phải có lai lịch trước, rồi mới có hành động.
Còn nếu chỉ kể lại đúng những gì có trong sử thi Ramayana như bộ phim với kinh phí khoảng 500 triệu USD của đạo diễn Nitesh Tiwari thì chỉ giống như tạo ra một cuốn sách tranh minh họa cho câu chuyện gốc sinh động và dễ hiểu.
Cho nên, hãy coi như việc bộ phim Ramayana vừa ra mắt phần một vào ngày 5/11 vừa qua là cái cớ để tìm lại kiệt tác gốc của Ấn Độ cổ.
Hồi đầu năm nay, tôi tình cờ tìm đọc nguyên bản đầy đủ Ramayana được cho là của thi sĩ Valmiki. Có nhiều người dịch Ramayana, nhưng dịch đầy đủ lại là chuyện khác. Một trong những phiên bản dịch đầy đủ hiếm hoi hiện nay sang tiếng Anh là của Bibek Debroy, nhà kinh tế học từng ngồi trong hội đồng cố vấn thủ tướng Ấn Độ.
Công đức vô lượng của ông là dịch toàn văn hai bộ sử thi Ramayana và Mahabharata từ tiếng Phạn, vốn gần như là bất khả dịch: một cuốn dài 24.000 shloka, một cuốn dài 100.000 shloka. Để hình dung sự đồ sộ, ta tạm hiểu một shloka gồm hai dòng (hay một cặp câu thơ), tổng cộng 32 âm tiết, có niêm luật nghiêm ngặt, rất dễ nhớ và phù hợp để truyền miệng. Số từ của Ramayana gấp 4 lần của trường ca Iliad. Bản dịch của Debroy, ra mắt năm 2017, dù không thể giữ nguyên cấu trúc thơ mà được chuyển thành văn xuôi, cũng giúp cho bạn đọc nước ngoài tiếp cận với Ramayana ở dạng tương đối đầy đủ về nội dung.
Nhưng tại sao phải đọc lại cuốn sử thi đã xuất hiện từ hàng trăm năm trước công nguyên? Có lẽ là bởi, bởi Ramayana nằm trong số ít những tác phẩm mà tham vọng của nó là chứa cả vũ trụ trong mình. Nó ra đời vào thời mà thi sĩ còn có hào quang và quyền lực.
Valmiki vốn là một tên ăn trộm. Chàng đã bắt đầu viết thơ thế nào? Ramayana kể lại rằng, chàng nhìn thấy một đôi sếu đang ân ái, bỗng con đực bị một tay thợ săn giương cung bắn chết. Valmiki giận dữ tột đỉnh, chàng buông hai câu shloka đầu tiên trên thế gian - một lời nguyền rủa với tay thợ săn vì đã rẽ thúy chia uyên - tội ác lớn nhất.
Valmiki được truyền thống Ấn coi là nhà thơ đầu tiên trên thế gian. Lời thơ đầu tiên trên thế gian lại là một lời nguyền rủa quyện cùng lòng thương xót! Tiếng thơ mang trong mình công lý, đại diện cho lẽ phải. Tiếng thơ là một yêu sách cho tình yêu. Không có tình yêu thì không có thơ. Và trong thơ có chân lý, có chánh pháp (dharma), có trật tự của vũ trụ. Nhà thơ khi ấy là người phát ngôn những sự thật lớn, chẳng khác chi một nguyên lý toán học, nghĩa là luôn đúng ở mọi nơi, mọi thời điểm. Thi ca không phải một mẩu sự thật hay một kinh nghiệm riêng tư, cá nhân, nhỏ bé. Thi ca là nguyên tắc vận hành thế giới. Nhà thơ là nhà tiên tri, đứng từ trên cao mà truyền sấm ngôn xuống loài người.
Và hẳn phải có lý do mà rất nhiều nền văn hóa đã tiếp nhận Rama, tạo ra phiên bản của riêng mình chứ. Hẳn câu chuyện của Rama phải là một câu chuyện đủ sức khiến tất cả chúng ta đều rung động. Rama, chàng hoàng tử con vua Dasharatha, sinh ra trong nhung lụa, lập bao chiến công, được kết duyên cùng nàng Sita - con gái của Đất Mẹ, chàng là người xuất chúng nhất, toàn mỹ nhất, nhưng rồi vì lòng ghen tuông của một vị hậu phi trong cung, mà đúng hơn là vì nghiệp quả của chính vua cha mà chàng buộc phải chịu lưu đày 14 năm trong rừng sâu. Chàng phải đi chân trần, mặc áo gai, từ bỏ hết vinh hoa phú quý, sống đời khổ hạnh. Câu chuyện ấy chẳng quen thuộc lắm sao? Odysseus thực ra cũng là như vậy. Trong khi đóng giả làm gã ăn mày xin một ít thức ăn từ tên cầu hôn Antinous, Odysseus nói:
"Ta cũng từng sống trong ngôi nhà cao sang mà bao người ngưỡng mộ;
ta cũng từng sống trong của cái gấm vóc..."
Chẳng phải đó cũng là câu chuyện của cả Oedipus trong kịch Sophocles, của Vua Lear trong kịch Shakespeare, của đấng đế vương Kay Khosrow trong sử thi Ba Tư Shahnameh, thậm chí là của ông Job công chính trong Kinh Thánh - những con người đang có tất cả và rồi chẳng mấy chốc lại mất đi tất cả? Có khi, điều đó được giải thích là do Chúa: "Tôi trần truồng lọt khỏi lòng mẹ, và tôi cũng sẽ trần truồng mà về; Đức Giê-hô-va đã ban cho, Đức Giê-hô-va lại cất đi; đáng ngợi khen danh Đức Giê-hô-va!" [Sách Job 1:21, bản Kinh Thánh tiếng Việt năm 1925]. Có khi lại được quy cho sự bất định tuyệt đối của đời người, sự bất lực của con người trước sức mạnh của thần linh: "Sự may rủi thống trị đời ta, tương lai chẳng ai biết được. Thôi thì mỗi ngày hãy cứ sống tốt nhất trong những gì có thể." [trích vở Oedipus làm vua, Sophocles], hay "Với thần linh, ta khác chi lũ ruồi với đám trẻ ngỗ ngược; / Họ giết ta chỉ để làm trò tiêu khiển đấy thôi" [trích vở Vua Lear, Shakespeare].
Cảnh phim Ramayana. Ảnh: Prime Focus Studios
Còn trong Ramayana, đó là định mệnh, là số phận, là thứ đã được xếp đặt trước bởi vòng quay nghiệp quả. Hãy nghe Rama giải thích về khổ nạn của mình: "Những điều không thể lường trước chính là định mệnh, và chẳng ai có thể vượt qua nó. [...] Làm sao con người có thể chống lại định mệnh? Chẳng còn cách nào khác ngoài chấp nhận. Hạnh phúc hay khổ đau, sợ hãi hay giận dữ, được hay mất, những gì xảy ra hay không xảy ra, tất cả đều là sự an bài của định mệnh."
Thậm chí Rama còn bênh vực người hậu phi của vua cha đã hãm hại chàng. Chàng biết rằng ngay cả những lời độc địa bà thốt lên cũng chỉ do định mệnh xui khiến mà thôi.
Và còn biết bao những khoảnh khắc vĩ đại của việc làm người trong sử thi này. Cảm động nhất không phải khi Rama chiến thắng quỷ vương, cảm động nhất là khi Rama rơi xuống tận cùng đau khổ: bị đuổi vào rừng, chẳng thấy mặt cha lần cuối, rồi lại bị mất đi người vợ yêu.
Chàng đau khổ khôn xiết, nỗi đau khiến chàng gần như phát điên và đánh mất chính mình. Khoảnh khắc Sita biến mất, ta không còn thấy một Rama điềm đạm như khi mất ngai vàng, chàng mất trí đến mức muốn phá tan vũ trụ, tận diệt hết biển cả, núi non, cây cối, chim chóc, muông thú, chàng muốn chặn đường Mặt Trăng, muốn làm chao đảo ba cõi, muốn rung chuyển càn khôn. Khoảnh khắc yếu đuối ấy của Rama làm ta nhớ đến chúa Jesus trên cây thập tự, hỏi rằng: "Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! Sao Ngài lìa-bỏ tôi??" [Tin mừng theo Thánh Matthew 27:46, bản Kinh Thánh tiếng Việt năm 1925]. Đến cả Chúa còn có lúc hoài nghi, đến cả hóa thân của thần Vishnu còn có khi bị nỗi đau dày vò, vậy thì ta chỉ là con người, sao tránh được những khổ đau? Khổ đau là tất yếu. Không thể trốn tránh, thôi thì ta đón nó vậy.
Một chi tiết khác mà tôi cũng rất thích khi đọc Ramayana, đó là nguồn gốc của thơ. Trong một phiên bản, sau khi viết xong sử thi này, Valmiki rất hãnh diện trình tác phẩm lên nhà hiền triết Narada. Narada khen thơ tấm tắc, nhưng bảo rằng tác phẩm này vẫn còn thua của thần khỉ Hanuman. Valmiki không tin, đi tìm Hanuman bằng được, ai dè đọc được bản Ramayana của Hanuman trên chiếc lá, liền bật khóc vì thơ của thần hay quá, toàn bích quá, thế thì còn ai muốn đọc thơ của mình? Thương Valmiki, Hanuman liền nuốt lá vào bụng. Từ đó về sau, thơ của thần mất dấu, chỉ còn thơ của người.
Hanuman vì sao lại nuốt thơ? So với các vị thần Hy Lạp rất hay so đo cùng con người, thần Ấn Độ rất đáng mặt làm thần! Thần chẳng thèm sân si với Valmiki: vì Valmiki viết thơ là để người đời nhớ tới Valmiki, còn ta viết thơ chỉ là để ta nhớ Rama.
Thơ của người vị kỷ. Thơ của thần vị tha.
Tất nhiên, có ai đọc đến đoạn ấy mà không ước gì mình được đọc thơ của thần? Nhưng đồng thời, ta cũng ngộ ra, ta đã thất lạc thi ca nguyên bản. Và nếu sử thi Ramayana là một hùng ca về tình yêu, về chân lý, về chánh pháp, thì chúng ta cũng đã đánh mất nguyên bản của tình yêu, chân lý, chánh pháp. Con người sẽ mãi đem những chủ đề ấy ra mà mổ xẻ, tranh luận. Nhưng làm sao ta nhìn thấy được sự thật, bởi vì nó đã an ổn trong bụng một vị thần mất rồi!
---
* Ngoài trích dẫn Kinh Thánh, các trích dẫn do tác giả bài viết dịch từ tiếng Anh.