Góc nhìn Âu tâm luận
Cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa thực dân đã phát triển đến cực hạn và mở rộng ảnh hưởng của mình bằng các cuộc chiến tranh xâm lược. Những quốc gia châu Âu đã biến những phần còn lại của thế giới thành thuộc địa, dưới sức mạnh của vũ khí và máy móc công nghiệp.
Xã hội Đông Á - vốn tự hào với ngàn năm văn hiến, với mũ áo và lễ chế Nho gia - bỗng nhận ra mình chỉ là một nấc thang thấp kém trong tiến trình phát triển nhân loại khi soi chiếu trong thuyết tiến hóa xã hội (Social Darwinism).
Qua góc nhìn Âu tâm luận (Euro-centrism) được kiến tạo trong suốt thời thuộc Pháp và tồn tại dai dẳng cho đến tận ngày nay, lịch sử Việt Nam thời tiền hiện đại (trước thế kỷ 20) được đóng khung trong những thiên kiến về sự trì trệ, lạc hậu. Sách vở của các học giả Pháp, mà nhiều người trong số họ đồng thời là quan chức ở xứ Đông Dương, góp phần không nhỏ trong việc tô đậm cái nhìn này.
Tâm lí dân tộc An Nam của Paul Giran cho rằng: "Sự kiên trì, năng động, sáng tạo, bao nhiêu là phẩm chất chưa được biết đến ở An Nam,... Người An Nam chỉ mong làm những nghề nghiệp,... ít đòi hỏi những nỗ lực sáng tạo nhất" (Omega+, 2019). Trong cuốn Les Jonques Chinoises, X: Indochine (Thuyền mành Trung Hoa, tập X: Đông Dương) của Louis Audemard, người Việt được cho là "ác cảm đối với bất kì thay đổi nào".
Có người còn xem người Việt là một dân tộc yếu về khoa học, không có đầu óc khoa học, hoặc ít năng động, sáng tạo [1]. Vậy điều này liệu có đúng sự thật?
Lịch sử Việt Nam từ chiều kích khoa học và kỹ thuật
Trên thực tế, khoa học, công nghệ, kỹ thuật, sáng tạo và đổi mới đã luôn đồng hành với tiến trình văn minh của Việt Nam trong suốt ngàn năm qua. Điều này được làm rõ một phần trong cuốn sách "Lược sử khoa học và kĩ thuật Việt Nam tiền hiện đại" do NXB Đại học Sư phạm ấn hành mới đây.
Lược sử khoa học và kĩ thuật Việt Nam tiền hiện đại góp phần cởi bỏ cái nhìn Âu tâm luận, đóng khung lịch sử Việt Nam trong quá khứ trong những thiên kiến về sự trì trệ, lạc hậu. Ảnh: Omega+
Cuốn sách tiếp nối các nghiên cứu trước đó, như công trình "Tìm hiểu khoa học kỹ thuật trong lịch sử Việt Nam" (Viện Sử học, 1979), "Nghề nông cổ truyền Việt Nam qua thư tịch Hán Nôm" (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 1983), "Văn minh vật chất của người Việt" (Phan Cẩm Thượng, 2011)...
Tuy nhiên, do sở kiến có hạn, nhóm tác giả chưa thể bàn luận nhiều lĩnh vực rộng lớn, mà chủ yếu khuôn hạn trong một số phạm vi hiểu biết cụ thể, như thiên văn-lịch pháp, bản đồ, kiến trúc, đê điều, quân sự và một số công nghệ cụ thể.
Các kết quả bước đầu này chủ yếu hình thành trên các nguồn sử liệu nguyên cấp (Hán cổ), tư liệu khảo cổ, và các tư liệu điền dã về địa lý, và kiến trúc lịch sử. Các nội dung và luận điểm chính yếu dựa trên tính thực chứng của sử liệu, được thực hiện trên phương pháp liên ngành.
Theo đó, dẫu không có nguồn lực hùng hậu để tạo ra phát minh, phát kiến thay đổi thế giới như các đế chế Sumer, Ai Cập, Trung Quốc, Ba Tư, La Mã..., chủ nhân của các nền văn hóa Đông Sơn, Óc Eo, Champa, Đại Việt xưa kia cũng có những sáng tạo của riêng mình.
Những công nghệ bản địa
Từ những buổi bình minh của lịch sử, trên mảnh đất hình chữ S ngày nay đã hiện diện những chiếc trống đồng với kỹ thuật khuôn đúc duy nhất được tìm thấy tại Luy Lâu, những bộ máy cò nỏ phức tạp,... Người xưa đã biết ngước nhìn lên bầu trời để nắm bắt quy luật vũ trụ, nhằm phục vụ sản xuất, giao thông... Tuy chỉ chiếm thiểu số, người Mường, người Chăm đã có lịch pháp của riêng mình, đánh dấu trình độ thiên văn và toán học.
Những hiểu biết về trời, đất và người đã được vận dụng để phá được những đội quân xâm lược thiện chiến hàng đầu thế giới, như quân Nguyên tại chiến dịch Bạch Đằng năm 1288,... Đó là một tâm thế nghe được nguồn đất, hiểu được gió trời, thông luồng con nước để sống hài hòa với thiên nhiên, để khai thác nguồn lợi, và chống lại giặc ngoại xâm.
Người xưa đã biết ngước nhìn lên bầu trời để nắm bắt quy luật vũ trụ, nhằm phục vụ sản xuất, giao thông... Trong ảnh: Bản đồ sao cổ Việt Nam tại Bảo tàng Vũ trụ Việt Nam", Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Hà Nội.
Xây dựng đất nước trong thời bình cũng lắm cam go, và trong quá trình đó, người Việt đã sáng tạo những công nghệ bản địa. Nhằm thuần hóa "thủy thần" hung hãn, qua bao thế kỷ, một hệ thống đê phức tạp phối hợp nhiều loại đê ở miền Bắc, kênh duyên hải phục vụ giao thông đường thủy dọc ven biển ở vùng Ninh Bình - Thanh Hóa - Nghệ An, và hệ thống kênh đào có phân cấp rõ ràng ở miền Nam, đã được các triều đại liên tục phát triển, bồi đắp.
Ngăn những dòng nước dữ đó là rất nhiều chủng loại cầu, cửa cống, thành trì... có kết cấu phức tạp và quy mô không thua kém các nước trong khu vực. Hệ thống đê điều suốt tuyến và đê biển đã đưa đồng bằng sông Hồng trở thành vựa lúa hai mùa, đảm bảo an ninh lương thực và phát triển dân số, tạo nguồn lực cho phát triển quân sự.
Các công trình sư xưa cũng làm chủ những vật liệu như gỗ, đá, tre... để tạo dựng không ít kỳ quan như hệ thống cung điện ở hoàng thành Thăng Long và Huế, chùa Diên Hựu, tháp Báo Thiên, thành nhà Hồ... Người đi biển đã tận dụng cây tre để sáng chế ra thuyền có đáy đan bằng nan tre, thay hoàn toàn đáy gỗ, không bị loài ký sinh đục vỏ, có thể chở tới hơn 50 tấn đi ra biển lớn, khiến các nhà hàng hải thế giới ngỡ ngàng.
Đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc đã phát minh ra bộ que tre đan hoa để điều khiển trình tự các sợi nhằm tạo ra hoa văn trên mặt vải, về bản chất là một dạng lập trình cơ học sơ khai.
Các công trình sư xưa đã làm chủ những vật liệu như gỗ, đá, tre... để tạo dựng không ít kỳ quan. Trong ảnh: Hình ảnh di sản kiến trúc chùa Một Cột - Diên Hựu thời Lý được tái tạo bằng công nghệ thực tế ảo. Nguồn: Sen Heritage
Học tập từ bên ngoài và đóng góp trở lại
Đáng chú ý, một số công nghệ và phát minh bản địa đã vươn ra khỏi đất nước và đóng góp cho văn minh nhân loại.
Người Lạc Việt xưa đã nghĩ ra cách dùng đồng bọc đáy thuyền để chống các loài ký sinh đục gỗ, điều mà người Anh áp dụng cho thuyền bè của họ hơn 1.500 năm sau.
Người Chiêm Thành lai tạo ra giống lúa sinh trưởng nhanh, chịu hạn tốt. Khi triều Tống du nhập giống lúa này, họ không chỉ giảm thiểu được nạn đói mà còn gia tăng dân số. Triều Trần cũng đã trồng lúa Chiêm trên những vùng đồng bằng mới nổi sau khi đắp đê ngăn nước. Triều Hồ đã sáng chế ra cốc mồi có nắp đậy cho súng, một bộ phận quan trọng mà súng khắp thế giới không thể thiếu trong 450 năm sau đó.
Phỏng dựng bằng AI hình ảnh thuyền Sai thời Nguyễn, một dạng thuyền chiến chèo tay phổ biến. Người thực hiện: Nguyễn Ngọc Phương Đông
Với một nền văn minh sông nước lâu đời, người xưa cũng đã phát triển nhiều kỹ thuật đóng tàu, được nhiều người ca ngợi. Ví dụ, khi đối mặt với tàu thuyền thiện chiến của nước Anh trong chiến tranh Nha phiến, đại thần Lâm Tắc Từ và Uông Trọng Dương của nhà Thanh từng khuyến nghị tiếp thu 4 loại thuyền chiến của nước An Nam, mà họ cho rằng khi hải quân Thanh có được thì thuyền chiến Anh không thể tung hoành được nữa.
Đối với việc tiếp thu từ bên ngoài, người Việt đã từng học tập và làm chủ những tri thức và công nghệ tiên tiến để không tụt hậu, thậm chí có lúc đi trước các nước trong vùng ở một số lĩnh vực.
Muộn nhất là thế kỷ IX, các loại máy bắn đá, máy bắn tên cơ học tinh xảo từ nhà Đường đã xuất hiện ở nước ta, để rồi sau đó vài thế kỷ, nước Chiêm Thành và nhà Trần lại triển khai những cỗ máy đó để đánh đuổi quân phương Bắc xâm lược.
Thuốc nổ du nhập khá sớm vào nước ta, khi các triều Trần, Lê Sơ được các sử gia quốc tế đánh giá là một "tiểu đế quốc thuốc súng", sớm hơn phương Tây nhiều thập kỷ. Thế kỷ XIII, quân dân nhà Trần có thể đã kết hợp giữa máy bắn đá, hồi hồi đơn sảo pháo, với bom sành và mãnh hỏa du để tạo nên chiến dịch thủy chiến hỏa công rực rỡ bậc nhất trong lịch sử: chiến dịch Bạch Đằng năm 1288.
Đến thế kỷ XVI, Đại Việt lại du nhập công nghệ đại bác nạp hậu và hiệp súng (tức súng hỏa mai) từ phương Tây để tăng cường tiềm lực quân sự trong nước.
Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, các triều đại Tây Sơn và Nguyễn bắt đầu đóng tàu kiểu phương Tây. Đặc biệt, đốc công Hoàng Văn Lịch không chỉ sao chép mà còn cải tiến thuyền máy hơi nước phương Tây, biến Việt Nam thành nước Á Đông đầu tiên làm chủ công nghệ máy hơi nước.
Triều Nguyễn cũng xây dựng hàng loạt thành trì dạng sao kiểu châu Âu, điều mà không nước Á Đông nào khi ấy đạt được.
Nhà toán học Nguyễn Hữu Thận tìm tòi các tri thức toán học và thiên văn học kiểu phương Tây để làm ra bộ lịch Hiệp Kỷ (của nhà Nguyễn), chính xác hơn các cách làm lịch trong nước suốt 300 năm trước đó.
Đánh đổi sự an nguy của bản thân lấy tri thức
Trong nhiều trường hợp, để có được tri thức từ bên ngoài, các trí thức Đại Việt phải đánh cược bằng sự an nguy của chính bản thân mình. Sứ thần thời Trần là Đặng Nhữ Lâm liều mình sao chép và mua "sách cấm" của người Nguyên và bị triều Nguyên bắt được, để sau đó con trai ông là Đặng Lộ có thể làm ra bộ lịch Hiệp Kỷ (của nhà Trần), cũng như chế tạo ra Linh Lung Nghi để quan sát thiên văn của Đại Việt, không lệ thuộc vào mỗi lần ban lịch sóc của Trung Hoa.
Chiêu Tài nam Nguyễn Văn Tú lặn lội sang tận Hà Lan xa xôi để học nghề chế tạo đồng hồ cơ khí và kính thiên văn ở thế kỷ XVII. Những trường hợp trên cho thấy người xưa không hề thụ động, mà đã chủ động, xông xáo đi ra thế giới nhằm mang tri thức nhân loại về làm giàu cho nền văn minh của nước nhà.
Không thể phủ nhận rằng phần công lao lớn nhất trong nỗ lực đổi mới, sáng tạo của đất nước thuộc về quần chúng lao động, những người gần gũi nhất và hưởng lợi nhiều nhất từ khoa học, công nghệ.
Ngoài những người vô danh đã hòa tan vào lịch sử, ta đôi khi vẫn gạn ra được những tên tuổi rõ ràng. Có thể nhắc tới Vũ Cự Luyện (thợ binh khí), Vũ Như Tô (kiến trúc sư xây dựng) thời Lê Sơ; thị vệ Lê Văn Nguyên (người tạo ra đèn bay, máy bơm) thời Nguyễn.
Một số vua chúa, hoàng thân tự thân tham gia vào vấn đề khoa học và kỹ thuật. Hình minh họa: Trần Hưng Đạo với bối cảnh sau lưng là trận Bạch Đằng năm 1288. Tác giả: Kaovjets Ngujens
Cũng cần tránh quan niệm rằng tầng lớp trên thời xưa có thái độ thờ ơ với khoa học, kỹ thuật, dẫn tới sự tụt hậu của đất nước. Xuyên suốt trong cuốn sách này, độc giả có thể bắt gặp những học giả, trí thức, đại thần thuộc giới tinh hoa tham gia sâu vào cải tiến, phát minh, truyền bá.
Thời Trần có cha con Đặng Nhữ Lâm, Đặng Lộ (thiên văn), thời Hồ có Hoàng Hối Khanh (bảo quản lương thực), thời Lê có Lương Thế Vinh (toán học), Dương Tĩnh (thủy xa tưới tiêu), Đào Duy Từ (thành quách, binh khí, quân sự), thời Tây Sơn - Nguyễn có Nguyễn Hữu Thận (lịch pháp, toán học), Đỗ Thanh Nhơn (thuyền chiến), Hoàng Văn Lịch (thuyền máy), Trương Viết Súy (máy giã thuốc súng), Vũ Huy Trinh (máy cưa), Nguyễn Hữu Nghiêm (hỏa khí), Cao Cam Vũ (binh khí)...
Đặc biệt, một số vua chúa, hoàng thân tự thân tham gia vào vấn đề khoa học và kỹ thuật, như hoàng đế Lý Nhân Tông (thuyền bè, máy cơ khí, kiến trúc trục xoay), Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn (địa lý, khoa học quân sự), hoàng tử Hồ Nguyên Trừng (hỏa khí), hoàng đế Minh Mạng (thuyền bè, máy móc)...
Tuy nhiên, cuốn sách vẫn còn những khoảng trống chưa được nhắc đến, như lịch sử dược học (thuốc Nam, với đại diện tiêu biểu là Tuệ Tĩnh), lịch sử y học (như Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác), lịch sử nông học, khai khoáng, luyện kim, và nhiều lĩnh vực khác. Muốn khỏa lấp những khoảng trống ấy, cần có một cái nhìn toàn diện về lịch sử khoa học và kỹ thuật Việt Nam qua so sánh với lịch sử khoa học thế giới.
Trào lưu lịch sử khoa học trên thế giới
Nhìn ra thế giới, các nước trong khu vực đã có nhiều nỗ lực làm sáng tỏ tiến trình phát triển khoa học kỹ thuật của nước họ trong lịch sử.
Trong khoảng vài chục năm trở lại đây, nhiều bộ lịch sử khoa học cỡ lớn, và nhiều tạp chí về lịch sử khoa học đã được xuất bản.
Đáng kể nhất là bộ "The Cambridge History of Science" xuất bản liên tục từ năm 2001 trở lại đây với 8 tập, bao quát lịch sử khoa học thế giới từ thời cổ đại hiện đại [2].
The Cambridge History of Science xuất bản liên tục từ năm 2001 trở lại đây với 8 tập, bao quát lịch sử khoa học thế giới từ thời cổ đại hiện đại. Ảnh: Gerardo L. Munck/ X.com
Bộ đáng kể thứ hai là "Studies in History and Philosophy of Science" do Charles T. Wolfe tổng chủ biên và Springer xuất bản lần lượt các tập từ năm 1982 đến nay, chuyên về lịch sử khoa học và triết học khoa học dựa trên nền tảng lịch sử. Bộ sách xuất bản các chuyên khảo, tuyển tập và bản dịch các nguồn tài liệu gốc bằng tiếng Anh.
Các công trình đề cập đến các hướng đi mới trong lý luận nhận thức và lịch sử tri thức trong bối cảnh toàn cầu và thuộc địa. Phạm vi thời gian của bộ sách khá rộng lớn, từ thời cổ đại đến hiện đại, và tất cả các khu vực trên thế giới [3]. Bộ sách hiện đã xuất bản vài chục tập [4].
Bộ thứ ba là "History of Science" của NXB Đại học Chicago [5], đến nay cũng đã xuất bản hàng chục tập, không chỉ trải dài trên nhiều lĩnh vực: sinh học, thực vật học, y dược học, luật học,... mà còn có nhiều tập mang tính liên ngành, ví dụ cuốn "Những con số đẫm máu: Thương mại nô lệ xuyên Đại Tây Dương thời kỳ đầu và sự ra đời của thể xác hiện đại" (2026), hoặc mở rộng đến lĩnh vực nghiên cứu xã hội nhân văn như "Nguồn gốc của nguồn gốc: Nietzsche, Foucault và những vòng xoáy của lịch sử phê phán." (2026).
Rõ ràng, những bộ sách này, tuy dùng phương pháp và lối tiếp cận sử học, nhưng thực tế nó là một cuộc tiếp cận đa-liên-xuyên ngành và có tính toàn cầu. Bởi xét từ một khía cạnh cụ thể, mọi tri thức, mọi ngành khoa học, mọi lĩnh vực nghiên cứu đều có tính lịch sử, mà muốn hiểu được giá trị của chúng thì buộc phải tiến hành so sánh theo cả hai chiều không gian - thời gian, với quá trình địa phương hóa và toàn cầu của mỗi ngành khoa học.
Nhìn sang Nga, ta thấy có bộ tùng thư "Lịch sử khoa học và kỹ thuật" do NXB Khoa học kỹ thuật Liên Xô ấn hành từ năm 1970-1990, gồm hơn 40 cuốn, viết về lịch sử của các ngành khoa học tự nhiên và khoa học chính xác từ thời cổ đại đến nay. Bộ sách đồng thời đề cập các khía cạnh lý thuyết và ứng dụng của các ngành, và tiểu sử của một số danh nhân trong khoa học và công nghệ của Nga.
Bìa một số tựa sách Evrika! trả lời những câu hỏi hóc búa trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và nhân văn bằng ngôn ngữ phổ thông. Nguồn: Thư viện Đại học Cambridge.
Ngoài tùng thư chuyên sâu trên, Liên Xô còn xuất bản một bộ thường thức khoa học "Evrika!" (khoảng 1960-1991), trả lời những câu hỏi hóc búa trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và nhân văn dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia hàng đầu bằng ngôn ngữ phổ thông. Loạt sách đề cập nhiều lĩnh vực, như du hành vũ trụ, thực vật học, công nghệ, tâm lý học,... từ quá khứ đến hiện tại.
Một số cuốn còn nhìn vào những bước tiến công nghệ và khoa học mà họ kỳ vọng sẽ thấy vào thời điểm chuyển giao thiên niên kỷ, như truyền thông, máy tính và mã nhị phân hoặc bàn về việc phát hiện sự sống trên các hành tinh khác [6].
Các bộ sách lịch sử khoa học các ngành ở Trung Quốc cũng được xuất bản liên tục trong nhiều chục năm qua. Sớm nhất là bộ tùng thư "Khoa học và văn minh ở Trung Quốc" do nhà Hán học Joseph Needham khởi xướng [7]. Bắt đầu ra mắt từ năm 1954, bộ sách gồm nhiều tập lớn, có sự tham gia biên soạn của đông đảo các nhà khoa học, kỹ sư, sử học của quốc tế và Trung Quốc, khảo cứu toàn diện những thành tựu của Trung Hoa cổ trung đại trong các lĩnh vực như thiên văn, toán học, y học, cơ khí, luyện kim, hàng hải, nông nghiệp, kỹ thuật in ấn...
Bộ sách cho thấy nhiều phát minh thường được gắn với phương Tây thực ra đã xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc, như la bàn, thuốc súng, giấy và kỹ thuật in. Công trình này góp phần thay đổi mạnh mẽ cách nhìn của giới học thuật phương Tây về vị trí của văn minh Trung Hoa trong lịch sử khoa học nhân loại. Từ đó xuất hiện "Câu hỏi Needham" nổi tiếng: vì sao Trung Quốc từng dẫn đầu thế giới về kỹ thuật và phát minh trong nhiều thế kỷ nhưng lại không phát triển cuộc cách mạng khoa học theo kiểu châu Âu cận đại?
Câu hỏi này không chỉ bàn về lịch sử Trung Quốc mà còn mở rộng thành tranh luận lớn về thể chế, triết học, kinh tế và cấu trúc xã hội trong sự hình thành khoa học hiện đại. Bộ tùng thư đến nay vẫn liên tục được cập nhật, sửa đổi không ngừng nghỉ.
Bộ "Một lịch sử Khoa học và Công nghệ Trung Quốc" gồm 5 tập, do giáo sư Lu Yongxiang và Jiang Xiaoyuan chủ biên, cung cấp bức tranh toàn cảnh mang tính bách khoa về sự phát triển khoa học và công nghệ của Trung Quốc, từ thời cổ đại cho đến tận ngày nay, bao gồm các tập: Nguồn gốc của khoa học Trung Quốc, Nghiên cứu về Trời và Đất ở Trung Quốc cổ đại, Thủy triều dâng của Khoa học và Công nghệ Trung Quốc, Giai đoạn Phát triển Mới của Lý thuyết Khoa học, và Ảnh hưởng phương Tây trong Lịch sử Khoa học và Công nghệ [8].
Một phiên bản khác gồm ba tập, do Lộ Vĩnh Tường biên tập (Springer, 2015), bắt nguồn từ một loạt 44 bài giảng dành cho lãnh đạo cấp cao Trung Quốc, bao gồm các chủ đề về "Câu đố Needham", bốn phát minh vĩ đại và nhiều lĩnh vực công nghệ khác nhau liên quan đến đời sống.
Bộ sách Trung Quốc Khoa học Kỹ thuật sử có sự tham gia của hơn một trăm học giả hàng đầu trong nước. Ảnh: Tân Hoa Xã
Đồ sộ nhất là bộ "Trung Quốc Khoa học Kỹ thuật sử" (中国科学技术史). Bộ sách được chủ trì bởi Viện Nghiên cứu Lịch sử Khoa học Tự nhiên thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (CAS), với sự tham gia của hơn một trăm học giả hàng đầu trong nước. Việc biên soạn được khởi xướng từ cuối những năm 1980, chính thức được CAS phê duyệt vào năm 1992 như một dự án trọng điểm, và kéo dài trong suốt 18 năm (hoàn thành 28 tập).
Bộ sách do Nhà xuất bản Khoa học và Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Trung Quốc ấn hành. Khác với công trình của Needham, bộ sách này đi sâu khai thác các tư liệu lịch sử, văn hóa bản địa và dành những chuyên khảo riêng cho các lĩnh vực trước đây chưa được nghiên cứu hệ thống như lịch sử vật lý, lịch sử kỹ thuật quân sự. Nó được đánh giá là công trình thể hiện trình độ quốc tế cao nhất của giới nghiên cứu lịch sử khoa học và kỹ thuật Trung Quốc đương đại [9].
Ngoài các bộ mang tính tổng quát nêu trên, các học giả Trung Quốc đã xuất bản nhiều bộ khoa học sử chuyên sâu khác, như: "Trung Quốc ấn loát sử", "Trung Quốc kiến trúc sử", "Trung Quốc thiên văn học sử đại hệ",... Những bộ này vừa lớn về quy mô, vừa sâu về học thuật, góp phần giúp người đọc có tri thức tổng quát và chuyên ngành từng lĩnh vực khoa học và kỹ thuật.
Gợi ý cho Việt Nam
Bộ tùng thư "Science and Civilisation in China" của Joseph Needham và trào lưu quốc tế về khoa học sử gợi ý rằng Việt Nam cũng cần một đề án học thuật quy mô lớn về lịch sử khoa học, kỹ thuật và văn minh trong quá khứ.
Bộ "Lịch sử Khoa học và Văn minh Việt Nam" này cần phản ánh đầy đủ hành trình sáng tạo của các cộng đồng tộc người, các chủ thể văn hóa qua nhiều thế kỷ, nhưng phải đặt nó trong dòng chảy của nhân loại với cái nhìn toàn cầu. Mục tiêu nhằm trả lời những câu hỏi: Cha ông ta đã làm những gì để tạo nên đất nước thông qua khoa học và kỹ thuật? Và vì sao chúng ta có những giai đoạn phát triển rực rỡ nhưng cũng có thời kỳ đứt gãy và tụt hậu?
Một bộ sách như vậy sẽ giúp lịch sử Việt Nam được soi rọi không chỉ qua chiến tranh, mà còn qua lao động, và sự tạo lập tri thức của xã hội. Đây không chỉ là một công trình về khoa học sử, mà còn là nền tảng để kết nối quá khứ với hiện tại, khơi dậy ý thức về truyền thống đổi mới sáng tạo trong công cuộc phát triển khoa học và kỹ thuật Việt Nam hôm nay.
---
Chú thích:
[1] Nguyễn Văn Huyên, 2016, Văn minh Việt Nam, NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội. tr.302.
[2] https://www.cambridge.org/core/series/cambridge-history-of-science/C3873DAE9287053FAFEA2A9F2336E2BE
[3] https://link.springer.com/series/5671
[4] https://link.springer.com/series/5671/books?page=7
[5] https://press.uchicago.edu/ucp/books/subject/su30.html#none:pubdate:list-display-grid
[6] https://languagecollections-blog.lib.cam.ac.uk/2016/05/31/eureka-the-may-2016-slavonic-items-of-the-month/
[7] Needham, Joseph, et al. 1954. Science and Civilisation in China. Cambridge: Cambridge University Press.
[8] https://link.springer.com/series/16685
[9] 程娟 , <研究撰述18年 《中国科学技术史》编撰完成 >, Zhongguo Xinwen wang, URL: https://www.chinanews.com.cn/cul/news/2008/08-06/1337453.shtml