Ở đâu cũng vậy, cây đại diện cho một trí tuệ cổ xưa. Folklore thế giới có cây tuyết tùng linh thiêng mà vì chặt nó, Enkidu bị nguyền rủa trong sử thi Gilgamesh của Lưỡng Hà cổ đại; có cây trí tuệ biết hết về cái tốt và cái xấu trong Kinh Thánh; cây Yggdrasil với bộ rễ chằng chịt, nâng đỡ toàn bộ vũ trụ trong sử thi Edda ở Bắc Âu; cây Kiến Mộc nối liền giữa thiên giới và phàm trần trong truyền thuyết Trung Hoa, từng được nhắc tới trong Sơn Hải Kinh; cây sồi thiêng ở Dodona - đài tiên tri cổ xưa nhất Hy Lạp, nơi tương truyền những bậc tư tế vẫn nghe tiếng lá xao xác để giải mã những sấm truyền của thần Zeus.
Với nhiều dân tộc Việt, cây là nguồn gốc của người. Ảnh minh họa: kevywk/Deviant Art
Là xứ nhiệt đới, nhiều rừng rậm, cây cối quanh năm xanh tốt, không bất ngờ khi trong folklore Việt Nam xuất hiện nhiều loài thực vật thiêng. Thậm chí, với nhiều dân tộc Việt, cây là nguồn gốc của người. Không có cây thì chẳng có người. Trong sử thi Đẻ đất đẻ nước của người Mường, sau một trận hồng thủy, đất đai ngấm nước đẻ ra cây si:
"Thấy si mọc lên lồ lộ
Thấy si mọc lên xum xuê
Che kín một bên đất
Che kín một bên trời" [1]
Vì cây si che kín vạn vật, sợ vạn vật chết hết, nên trời gửi sâu Hốc, sâu Gang xuống ăn cây, đến khi cây héo rũ, chết đi, từ cây si đẻ ra mường, làng bản đất đai; lá si hóa ra muông thú; cuối cùng cây si mục hóa thành mụ Dạ Dần, mụ đẻ ra hai trứng, trứng nở ra hai người:
"Cây si mục
Cành lòa xòa hóa ra chân tay mụ Dạ Dần
Cành lù xù hóa ra đầu mụ Dạ Dần
Cành thia lia hóa ra tai, ra mắt mụ Dạ Dần
Cành sừng sững hóa ra ngực, ra lưng mụ Dạ Dần."
Như vậy, với người Mường, niên biểu sáng thế đi từ cây đến người. Trình tự cây có trước, người có sau cũng có thể tìm lại trong folklore của dân tộc Chăm. Trong bài nghiên cứu Thượng cổ sử Chiêm Thành của Bố Thuận và Nguyễn Khắc Ngư đăng trên tập 3 Việt Nam Khảo cổ tập san, in năm 1962, có nhắc đến một vị thần là ông Cú: "Ngày thứ ba, mùng sáu tháng hai năm cù-pào [2], ông Cú từ trong cây Mô si ra đời." Sau đó ông mới "khai quang nhật nguyệt", xây dựng lại vạn vật trước đã tiêu tan. Ông sinh ra cá, cây cỏ, muông thú, ma quỷ, sau cùng ông sinh ra loài người.
Có lẽ người xưa sống dưới bóng cây, dựng nhà bên cây, được cây nuôi sống, che chở, nên rất tự nhiên, coi cây như thủy tổ của mình.
Quay lại sử thi Mường, ta thấy cây chết mà sinh ra muôn loài, nghĩa là trong cái chết của cây ngụ ý một sự hồi sinh. Trí tuệ của cây trong sự hồi sinh có lẽ cũng gắn liền với những suy tư đầu tiên của nhân loại về những quy luật khái quát, những khái niệm trừu tượng như vòng đời, sự xoay tròn của thời gian, sự vĩnh hằng... - những điều vượt lên đời sống vật chất hữu hình.
Con người bắt nguồn từ cây. Nhưng đến một thời điểm, con người quyết định chặt cây để gây dựng thế giới của mình. Vì cây thiêng có một sức mạnh vô song, chặt cây thiêng là hành động thường chỉ có thể đến từ những anh hùng.
Nói một chút về sử thi thế giới, chuyện chặt cây nổi tiếng hơn cả có lẽ là chuyện Gilgamesh và Enkidu chặt cây tuyết tùng. Họ chặt cây tuyết tùng cao nhất, được thần linh bảo vệ, với mong ước mang cây về làm cổng thành Nippur. Việc xây dựng đô thị như vậy bắt nguồn từ việc chặt một cái cây. Rừng là sáng tạo của thần; thành phố là sáng tạo của người. Từ bỏ trí tuệ rừng để đi đến trí tuệ đô thị chính là hành trình phát triển của các nền văn minh. Tất nhiên, sự đánh đổi ấy của nhân loại có đáng không lại là một câu hỏi khác mà ta không bàn ở đây.
Trong folklore Việt, motif chặt cây cũng xuất hiện, và hẳn nhiên, chỉ những anh hùng mới đốn đổ được cây thiêng.
Sử thi Đam San của người Ê Đê có đoạn người hùng Đam San đi chặt cây smuk, "gốc cây người đi quanh phải một năm. Cành cây chim chuyền phải một tháng. Tán cây chim bay hết một hơi. Gốc cây trong suối, thân cây trong thung, cây cao không cao, thấp không thấp, đủ chọc đến trời..." [1]
Trong folklore Việt, motif chặt cây thần cũng xuất hiện, như một hành động anh hùng, vượt qua những giới hạn mà thế giới thần linh đặt ra. Ảnh minh họa: Cổng thông tin điện tử Chính phủ
Và cây smuk, cũng như cây si của sử thi Mường hay cây Mô si trong cổ sử Champa, đều sinh ra con người. Cây smuk đã sinh ra tổ tiên hai người vợ của Đam San. Hai nàng ngăn chồng chặt cây không được, liền bỏ chạy. Các nàng chạy về hướng nào thì cây ngả theo hướng ấy, cuối cùng cây vật chết họ. Đam San hối hận, khóc thương một hồi rồi quyết lên bắt trời cứu họ sống dậy.
Nỗi hối hận của Đam San đồng vọng với nỗi đau tang chế của Gilgamesh sau khi Enkidu phải chết vì lời nguyền của vị thần cai quản rừng tuyết tùng bị họ chặt phá. Gilgamesh khóc thương Enkidu "như một người đàn bà" trong khi tưởng nhớ về "mọi cung đường ta từng cùng phiêu lưu, mọi con thú ta từng cùng săn bắn: gấu, linh cẩu, hổ, báo đen, báo hoa mai, sư tử...". Còn Đam San thì lên tận nhà trời, tóm lấy trời định chém rồi khóc "nước mũi ròng đầy cả chén hoa, nước mắt rỏ ròng đầy cả bát sứ, lênh láng khắp chiếu chăn."
Chặt đi cây thần là một phần không tránh khỏi trong hành trình anh hùng, nhưng một khi cây đã bị đốn, thì con người cũng đánh mất đi một điều gì đó khó lòng lấy lại. Gilgamesh khóc như đàn bà, Đam San nhỏ lệ ròng ròng, sự yếu đuối của những anh hùng lộ ra khi cây bị đốn đổ. Họ mất đi những người thân thích nhất, họ bước vào cõi cô độc khi tách mình khỏi sợi dây với tự nhiên.
Đẻ đất đẻ nước cũng có một trường đoạn chặt cây chu, một trong những phần hay nhất của toàn bộ sử thi này.
Lang Cun Khương (lang là chức vị thủ lĩnh của một bộ tộc Mường cổ) được sinh ra từ cuộc hôn phối giữa Lang Cun Cần và một nữ thần. Chàng là biểu trưng của sức mạnh bộ lạc. Khi Lang Cun Khương muốn xây một ngôi nhà bằng gỗ cây chu, lang cho người đi tìm chu mà không ai tìm thấy, chỉ có đứa ở Tặm Tạch là tìm được. Tặm Tạch không chặt chu, bởi chim vàng anh trên cây hứa hẹn rằng, chỉ cần không chặt cây, không tiết lộ cây ở đâu cho người khác, thì Tặm Tạch sẽ được đời đời giàu có.
Nhưng rồi lang cũng biết bí mật của Tặm Tạch, lừa được Tặm Tạch dẫn tới cây chu. Cây chu trả thù bằng cách đòi lang giết Tặm Tạch thì mới chịu bỏ gốc, trốc khỏi rừng, tạo nên một vụ chặt xác, chẻ thây, lấy xương Tặm Tạch cưa đổ cây chu. Cảnh cả mường "đánh cồng đánh trống, kéo chu qua rừng, qua bãi, qua núi, qua khe" là một hùng cảnh thể hiện sức mạnh của cả cộng đồng để xây nên nhà Chu, một đại công trình kiến trúc đánh dấu bước chuyển của con người: "Sáng nhà Chu sáng cả binh mường, sáng cửa sáng người, sáng trời sáng đất."
Để tạo nên công trình ấy, để có được một thời đại "sáng mái, sáng nhà, sáng kho sáng trại, sáng ngai, sáng kiệu, sáng chiếu, sáng giường", thì Tặm Tạch phải phản bội cây chu và Lang Cun Khương phải giết Tặm Tạch. Mà không phải giết đơn thuần. Cảnh giết Tặm Tạch để cưa cây khiến ta run rẩy. Sự vĩ đại của một sử thi luôn nằm trong cả cái đẹp lẫn sự bạo tàn. Cả hai đều đạt đến những tầng bậc mà ta không còn khả năng để phán xét, cả hai đã vượt lên đúng/sai, tốt/xấu.
Sau đó, con cái Tặm Tạch trả thù cho cha, chúng đốt sạch ngôi nhà làm bằng gỗ cây chu, bị truy lùng, chúng nhập vào một cây si, người ta đốn đổ cây si, cây si chảy máu: "máu người hòa máu si trắng đục."
Ta không biết cây si này có phải con cháu của cây si thủy tổ đã tạo ra mụ Dạ Dần hay không. Ta chỉ biết, cây và người đến đây lại hòa thành một. Cây lại chết, người cũng chết, thứ máu người lẫn máu cây ấy đổ xuống để rồi lại tái sinh thành những loài vật khác. Mường sau đó vẫn rước vua về - vị vua đầu tiên - bắt đầu một thời kỳ lịch sử hoàn toàn mới của con người. Nhưng cây cối dẫu bị đốn đổ, vẫn hóa thân thành những dạng thức khác. Sự sống vẫn tiếp diễn, trong những bí ẩn khôn cùng mà con người không thể hiểu hết.
---
Chú thích:
[1] Bài viết sử dụng bản dịch Đẻ đất đẻ nước của NXB Thông Tấn Xã Việt Nam do các tác giả Đặng Văn Lung - Vương Anh - Hoàng Anh Nhân biên soạn; bản dịch Trường ca Đam San do Sabachier sưu tầm, Đào Tử Chí dịch và Nguyễn Hữu Thấu hiệu đính.
[2] Năm con trâu theo lịch Chăm