![]() |
Những sản phẩm mới của Rạng Đông là trên cơ sở hợp tác với các nhà khoa học tại Viện Hàn lâm KH&CM Việt Nam, ĐH Bách khoa HN, Học viện Nông nghiệp Việt Nam... |
Mắc kẹt với công nghệ nội sinh
Đồng loạt xuất hiện trên nhiều trang báo đầu tháng 10, danh sách top 10 trường đại học có mức doanh thu cao nhất Việt Nam cho thấy, chín trường công lập và bốn trường tư thục đạt mức doanh thu lên tới hàng nghìn tỉ đồng và có lãi. Chiếm phần lớn trong số các trường có doanh thu nghìn tỉ là nhóm các trường kỹ thuật, bao gồm ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Bách khoa TPHCM, ĐH Công nghiệp TPHCM..., và điểm chung giữa các trường là nguồn thu chính vẫn chủ yếu từ học phí. Ví dụ, theo báo cáo năm 2024 của ĐH Bách khoa Hà Nội, tổng thu của trường là 1.502,68 tỉ đồng, trong đó chủ yếu là nguồn thu từ hoạt động giáo dục và đào tạo với 1.343,28 tỉ đồng, thu từ hoạt động KH&CN chỉ chiếm một phần khiêm tốn với 101,10 tỉ đồng; theo báo cáo năm 2024 của trường ĐH Công nghiệp TPPHCM, tổng doanh thu của trường là 1.348,9 tỷ đồng, trong đó tiền thu từ đào tạo là 1.181,9 tỉ đồng, hoạt động KH&CN là 56,1 tỉ đồng.
Trước đó, luật sư Nguyễn Thị Thủy Chung của Công ty luật ASL LAW, trong một bài viết trên tạp chí Luật sư Việt Nam, cũng xác nhận "Theo thống kê năm 2023, doanh thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học chuyển giao công nghệ tại các trường vẫn còn rất thấp. Trường ĐH Kinh tế Quốc dân có nguồn thu năm 2023 từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trên 42 tỉ đồng, đạt gần 3% doanh thu của trường, ĐH Bách khoa Hà Nội có nguồn thu từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ là 18 tỉ đồng, đạt trên 0,8%. Tỉ lệ này là 4,5% tại trường ĐH Tôn Đức Thắng và đạt 0,7% tại trường Đại học Nguyễn Tất Thành".
Các con số cho thấy, dẫu là nơi được kỳ vọng sẽ tạo ra những kết quả mới và các giải pháp công nghệ mới thì các trường đại học kỹ thuật ở Việt Nam vẫn còn chưa thúc đẩy được hoạt động chuyển giao công nghệ.
Vấn đề phân định chủ sở hữu của công nghệ, sản phẩm nội sinh từ trường viện là bế tắc lớn nhất trong chuyển giao công nghệ. Mặc dù ra đời để hướng dẫn chuyển giao công nghệ nhưng trên thực tế, nghị định 70 đã khiến cho tất cả dồn ứ, tắc nghẽn về phân định chủ sở hữu, bởi khi chuẩn bị trao sản phẩm ưng ý cho doanh nghiệp thì nhà khoa học mới bất ngờ nhận ra mình không phải là người sở hữu. |
Tình trạng này không của riêng các trường đại học, mà ngay ở Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam cũng không mấy tươi sáng. Mặc dù tăng số lượng bằng độc quyền sáng chế và giải pháp hữu ích, chiếm gần 20% thị phần sáng chế và giải pháp hữu ích tại Việt Nam do người Việt Nam là chủ bằng (năm 2021) nhưng việc đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn còn nhiều giới hạn, các nhà khoa học của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam chia sẻ như vậy trong các buổi làm việc với Thủ tướng Phạm Minh Chính tháng 10/2022 và Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng vào tháng 4/2025
Vậy tại sao các sản phẩm mới ở những nơi được kỳ vọng là điểm xuất phát của các công nghệ nội sinh, lại không thể lan tỏa ra ngoài thị trường và đến được tay doanh nghiệp? Phải chăng có những vấn đề xuất hiện trên con đường chuyển giao công nghệ?
Thúc đẩy chuyển giao công nghệ nội sinh, dễ hay khó?
Trong những ngày này, các cuộc bàn luận về chuyển giao công nghệ và thúc đẩy thương mại hóa các sản phẩm KH&CN chất lượng cao từ các trường, viện được bàn luận khá sôi nổi. Một trong những nguyên nhân dẫn đến mối quan tâm này là sự ra đời của các chính sách lớn nhằm khuyến khích các hoạt động R&D, không chỉ trong trường viện mà còn cả trong các doanh nghiệp tư nhân, ví dụ như Nghị quyết 57/NQ/TW về đột phá phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân..., và mới đây là thảo luận tại Quốc hội về việc sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ 2017. Tất cả như những luồng gió hứa hẹn sẽ đem đến luồng sinh khí mới cho các phòng thí nghiệm, nơi bấy lâu nay vẫn còn lẩn quẩn và bị kìm hãm bởi những quy định và giám sát chặt chẽ của rất nhiều khung khổ pháp lý cố hữu, lạc hậu so với sự phát triển của thời cuộc.
Những rắc rối trong việc chuyển giao tài sản không thuộc quyền sở hữu và cũng không đủ khả năng định giá khiến cho đa số các nhà khoa học lựa chọn phương án là giao lại cho tổ chức chủ trì để chuyển giao mà không chọn phương án tự mình khởi nghiệp. GS. Châu Văn Minh |
Có thể thấy, chuyển giao công nghệ cũng chỉ là một phần trong các hoạt động KH&CN nhưng nó lại liên quan mật thiết đến việc sử dụng tri thức, know-how tích lũy được từ nghiên cứu trong thực tiễn, và hơn thế, liên quan đến sự đóng góp của KH&CN vào sự phát triển kinh tế xã hội, một cách đền đáp lại những gì xã hội đầu tư cho KH&CN. Sự ra đời của Luật Chuyển giao công nghệ vào năm 2006 và lần sửa đổi gần nhất vào năm 2017 cho thấy quan điểm của các nhà quản lý trong việc khuyến khích và thúc đẩy của quá trình này. Nếu ở cuộc xây dựng luật vào năm 2006, Luật Chuyển giao công nghệ mới chỉ chú trọng đến sự tiếp nhận luồng công nghệ mới từ nước ngoài vào Việt Nam thì ở lần sửa đổi năm 2017, Luật đã quan tâm nhiều hơn đến thúc đẩy kết quả nghiên cứu từ trường viện tới doanh nghiệp. Trong phạm vi điều chỉnh của Luật chuyển giao công nghệ 2017 có ghi rõ "Luật này quy định về hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, từ nước ngoài vào Việt Nam, từ Việt Nam ra nước ngoài; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động chuyển giao công nghệ; thẩm định công nghệ dự án đầu tư; hợp đồng chuyển giao công nghệ; biện pháp khuyến khích chuyển giao công nghệ, phát triển thị trường KH&CN; quản lý nhà nước về chuyển giao công nghệ".
Những tưởng, luật mới sẽ đem lại những hướng dẫn quan trọng cho con đường từ phòng thí nghiệm ra đến thị trường nhưng gần 10 năm qua, những gì diễn ra trên con đường này lại cho thấy, kết quả thu được chẳng đáng bao nhiêu so với tiềm năng. Tri thức mới và kết quả nghiên cứu mới, như trường hợp của nhóm các trường kỹ thuật và Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, vẫn bị dồn ứ lại ngay ở cánh cửa phòng thí nghiệm.
Vậy nguyên nhân từ đâu? Có lẽ để giải đáp câu hỏi này, hãy nhìn vào chính lịch sử phát triển và hiện trạng của KH&CN Việt Nam. Trước hết, phần lớn nguồn kinh phí dành cho các dự án nghiên cứu đều từ ngân sách nhà nước. Việc quản lý dòng tiền từ ngân sách một cách chặt chẽ với một hệ thống văn bản, quy định tài chính phức tạp khiến cho các trường, viện không chỉ gặp khó trong quá trình triển khai đề tài, dự án mà còn không thể "cựa quậy" trong thương mại hóa sản phẩm thu được sau khi kết thúc đề tài, dự án. Trong một cuộc trao đổi vào năm 2023, TS. Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN, đã chia sẻ "Nếu đề tài nghiên cứu mà không dùng ngân sách nhà nước thì không vấn đề gì nhưng cái vướng nhất hiện nay là hầu hết các đề tài nghiên cứu của mình đều từ nhà nước đầu tư còn xã hội đầu tư chưa đáng kể... Nhà nước đã bỏ tiền đầu tư nghiên cứu thì chủ sở hữu là nhà nước, kết quả nghiên cứu là của nhà nước, kể cả những sản phẩm khác do đề tài tạo ra cũng đều của nhà nước. Bây giờ, nhà khoa học muốn chuyển giao sản phẩm nào cho doanh nghiệp cũng không có cơ chế cho phép".
Vấn đề này được nhắc đến trong một văn bản "khét tiếng" quy định về vấn đề chuyển giao công nghệ, trên cơ sở căn cứ Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật KH&CN, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ: Nghị định 70/2018/NĐ -CP quy định quản lý, tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng vốn nhà nước.
Cuộc sửa Luật Chuyển giao công nghệ 2017 sẽ tập trung vào 6 khối chính sách quan trọng. Chính sách 1: Xác định phạm vi công nghệ điều chỉnh trong Luật để bao quát công nghệ mới theo xu thế trên thế giới và yêu cầu thực tiễn. Chính sách 2: Hỗ trợ, thúc đẩy chuyển giao công nghệ nội sinh, bao gồm chuyển giao công nghệ giữa các doanh nghiệp/tổ chức, cá nhân trong nước, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển. Chính sách 4: Tạo động lực tài chính, thể chế, pháp lý cho hoạt động chuyển giao công nghệ. Chính sách 5: Tăng cường kiểm soát chuyển giao công nghệ xuyên biên giới để vừa kiểm soát an ninh công nghệ, vừa thúc đẩy chuyển giao công nghệ quốc tế hiệu quả. Chính sách 6: Tăng cường năng lực quản lý nhà nước, thực hiện giám sát, thống kê, đo lường hiệu quả chuyển giao công nghệ. |
Vấn đề phân định chủ sở hữu của công nghệ, sản phẩm nội sinh từ trường viện là bế tắc lớn nhất trong chuyển giao công nghệ. Mặc dù ra đời để hướng dẫn chuyển giao công nghệ nhưng trên thực tế, nghị định 70 đã khiến cho tất cả dồn ứ, tắc nghẽn do phân định chủ sở hữu, bởi khi chuẩn bị trao sản phẩm ưng ý cho doanh nghiệp thì nhà khoa học mới tá hỏa ra là mình không phải là người sở hữu nó - "Tài sản hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ ngân sách cấp là tài sản công", điều 4 Nghị định 70 có nêu rõ. Luật sư Nguyễn Thị Thủy Chung, trong bài viết trên tạp chí Luật sư Việt Nam, cũng nhắc đến trường hợp dở khóc dở cười này "Việc phân định quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và nhà khoa học chưa rõ ràng, làm nhiều cá nhân, tổ chức e ngại khi đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường". Theo quan điểm của chị, "nhiều đề tài sử dụng ngân sách nhà nước được coi là tài sản công nhưng chưa có cơ chế linh hoạt để đơn vị chủ trì hoặc tác giả khai thác thương mại hiệu quả, trong khi nguồn lực tài chính cho nghiên cứu còn hạn chế, các trường ngoài công lập chủ yếu dựa vào học phí, thiếu quỹ đầu tư cho giai đoạn thương mại hóa".
Điểm nghẽn thứ hai ảnh hưởng đến quá trình chuyển giao công nghệ nội sinh là "hệ thống chính sách và pháp luật về nghiên cứu, chuyển giao công nghệ hiện còn nhiều bất cập, thủ tục hành chính và quy định tài chính phức tạp, chồng chéo", theo luật sư Nguyễn Thị Thủy Chung. Trong Hội nghị "Phát triển thị trường KH&CN đồng bộ, hiệu quả, hiện đại và hội nhập" do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì vào tháng 9/2022, giáo sư Châu Văn Minh, Chủ tịch Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam cũng nhắc đến sự phức tạp và vướng mắc khi tuân thủ các văn bản quy định: chưa có sự thống nhất trong hướng dẫn xử lý kết quả nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước. Ông nêu ví dụ, nếu kết quả nếu không đăng ký sở hữu trí tuệ thì nhà khoa học sẽ phải tuân theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017, vì vậy trong trường hợp nhiệm vụ sử dụng 100% ngân sách thì toàn bộ lợi nhuận sẽ thuộc nhà nước. Trong trường hợp kết quả được bảo hộ sở hữu trí tuệ thì thực hiện theo Luật Sở hữu trí tuệ 2022, vốn quy định nhà khoa học được hưởng từ 15% đến 20% lợi nhuận khi thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Trong khi đó, Luật KHCN 2013 lại quy định nhà khoa học được hưởng tối thiểu 30% lợi nhuận khi thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Do không có sự thống nhất trong quy định nên ông cho rằng, rất khó áp dụng trong thực tế, khi nhà khoa học muốn chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp.
Một hệ lụy khác là do nhà khoa học không phải là người nắm giữ công nghệ nên rất khó định đoạt các tiềm năng khác mà công nghệ gợi mở, đó là phân chia lợi nhuận trong trường hợp chuyển giao thành công cho doanh nghiệp, hoặc sử dụng công nghệ dưới hình thức góp vốn, thành lập các công ty khởi nguồn (spin off). Có lẽ, trước những gì diễn ra trong thời gian qua, nhiều người cho rằng, những người tham gia sửa Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 chưa lường hết mọi chuyện. Không hẳn như vậy, vấn đề cơ chế chuyển giao liên quan đến quyền sở hữu công nghệ đã được đặt ra và cân nhắc nhưng có những vấn đề mà riêng Bộ KH&CN không tự mình quyết định. "Việc quy định quyển sở hữu, sử dụng đối với kết quả nghiên cứu và ứng dụng công nghệ có sử dụng vốn nhà nước cần phải được nghiên cứu kỹ để các tổ chức, cá nhân có liên quan có cơ sở để chuyển giao kết quả nghiên cứu một cách tự nguyện và thu lại được lợi ích nhất định, hài hòa giữa lợi ích của nhà nước, tổ chức chủ trì và cá nhân nhà nghiên cứu", bà Đỗ Thị Bích Ngọc (Bộ KH&CN), từng nêu trên tạp chí KH&CN Việt Nam vào năm 2014, quãng thời gian mà bà và cộng sự lấy ý kiến và xây dựng dự thảo sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ 2006.
Trong quá trình chuyển giao công nghệ, nhà khoa học và các tổ chức chủ trì còn gặp phải một vướng mắc khác là khâu định giá. Đây là vấn đề mà TS. Nguyễn Quân trong cuộc trao đổi năm 2023 đã chia sẻ "Nếu có sửa Luật Chuyển giao công nghệ thì tôi nghĩ cần bổ sung cơ chế để các nhà khoa học của chúng ta có thể chuyển giao công nghệ thành công. Vướng mắc lớn nhất theo tôi còn là chuyện định giá". Sở dĩ việc định giá quan trọng là vì phần lớn kinh phí thực hiện các dự án, đề tài tạo ra công nghệ đều từ ngân sách nhà nước và các đơn vị chủ trì hay chủ nhiệm đề tài phải có trách nhiệm hoàn trả kinh phí cho nhà nước khi sản phẩm được thương mại hóa, tránh thất thoát kinh phí.
Trong nhiều cuộc thảo luận ở Bộ KH&CN, khi bàn đến chuyển giao công nghệ và sửa đổi Nghị định 70, các nhà khoa học và nhà quản lý đã bàn đến vấn đề định giá tài sản hình thành sau nhiệm vụ KH&CN. "Tài sản KH&CN hình thành sau khi thực hiện dự án KH&CN nó là cái mới. Vậy chúng ta có thể định giá cái mới như thế nào? Có định giá được không? vì nếu định giá được thì nó không còn là cái mới nữa. chúng ta so sánh nó với cái gì để định giá?", PGS. TS Trần Quốc Bình, trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, nêu vấn đề.
Khó khăn trong việc định giá này xuất hiện ở mọi nơi, không chỉ trường đại học mà cả viện nghiên cứu trực thuộc Bộ KH&CN, nơi soạn thảo Luật Chuyển giao công nghệ. PGS. TS Vũ Đức Lợi, Viện trưởng VKIST, một mô hình KH&CN mà Việt Nam học hỏi từ mô hình Viện KIST rất thành công ở Hàn Quốc, cũng trao đổi góc nhìn về việc định giá và chia sẻ lợi nhuận "Chúng tôi không chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp được, vì có hai thứ: một là đề tài liên quan đến doanh nghiệp thì giá công nghệ là gì? chia sẻ lợi nhuận là bao nhiêu? Vì hai vấn đề này mà dừng hết". Sau khi xem xét tất cả các văn bản quy phạm pháp luật như các nghị định, thông tư liên quan đến chuyển giao công nghệ và định giá như Luật Quản lý tài sản công, Nghị định 151 hướng dẫn về luật quản lý tài sản công, Nghị định 70, thông tư 02/BKHCN/2023, Thông tư số 63/2018/TT-BTC, Thông tư 10/2019/TT-BTC... "Chúng tôi căn cứ vào Thông tư 10 thì có điều 7, điều 8, điều 9, điều 10 với những cách tiếp cận khác nhau để ra giá, chẳng hạn như điều 7 là phương pháp xác định giá tài sản dựa trên kinh phí đầu tư cho KH&CN nhưng rất vướng bởi không lên được giá trị tài sản. Điều 8 điều 9 cũng thế. Trong Thông tư 10 về cơ bản nắm sát theo cách tiếp cận của Mỹ là dựa vào thị trường song chúng ta chưa có thị trường KH&CN đầy đủ", ông phân tích.
Nếu coi sản phẩm công nghệ hình thành sau dự án KH&CN là hàng hóa chứ không phải tài sản công thì chịu điều chỉnh theo luật nào, PGS. TS Vũ Đức Lợi nêu câu hỏi. "Nếu coi là hàng hóa thì dưới góc độ pháp lý có Luật Thương mại điều 3 khoản 2 điều chỉnh nhưng luật này lại không liên quan đến tài sản vô hình". Vì vậy, ông gợi ý là việc xác định giá của dạng tài sản đặc biệt này sẽ dựa vào Luật Giá 2015.
Tuy nhiên, đây cũng không phải là lối thoát bởi theo ý kiến của ông Nguyễn Nam Hải, lúc đó còn là Vụ trưởng Vụ tài chính (Bộ KH&CN), cái khó vẫn là sẽ xác định "hàng hóa của ai? Có phải hàng hóa của nhà nước không? Trong trường hợp này thì ai đủ khả năng xác định được giá sàn, để sau đó không bị cho là giá sàn thấp thế".
Những rắc rối trong việc chuyển giao tài sản không thuộc quyền sở hữu và cũng không đủ khả năng định giá khiến cho đa số các nhà khoa học lựa chọn phương án là giao lại cho tổ chức chủ trì để chuyển giao mà không chọn phương án tự mình khởi nghiệp, giáo sư Châu Văn Minh báo cáo trong cuộc họp năm 2022. Trong khi đó, những thành công của một công nghệ mới, vốn chứa đựng rất nhiều thách thức công nghệ và mang tính rủi ro cao, thường gắn chặt với tác giả tạo ra công nghệ. Điều này đúng với cả các nhà khoa học tạo ra sản phẩm công nghệ mới ở những nền khoa học tiên tiến.
Từ công nghệ nội sinh đến công ty spinoff
Trong nhiều năm qua, trên khắp thế giới, người ta chứng kiến rất nhiều công ty spinoff được hình thành trên những công nghệ được ươm mầm trong phòng thí nghiệm của các trường, viện. Ookuma Diamond Device, một spinoff của ĐH Hokkaido, Nhật Bản, tạo ra chip máy tính kim cương có thể sử dụng lượng điện năng lớn một cách hiệu quả, vượt trội hơn so với các vật liệu được sử dụng trong chất bán dẫn thông thường, có thể hoạt động trong môi trường nhiệt độ cao và phóng xạ. Ban đầu, Ookuma Diamond Device được hình thành để hỗ trợ ngành hạt nhân Nhật Bản trong xử lý hậu tai nạn nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi, giờ công nghệ họ có trong tay có thể đáp ứng nhu cầu dữ liệu của các dịch vụ như xe tự hành, blockchain, AI, viễn thông thế hệ mới, vệ tinh, radar... Cuối năm 2024, công ty đã gọi vốn được 27 triệu USD từ các nhà đầu tư Globis Capital, aStart, Japan Post Bank Spiral Regional Innovation Fund và SMBC Capital. Ở châu Âu, Cyclize, một spinoff của ĐH Stuttgart đã phát triển công nghệ plasma biến nhựa thành hóa chất mới, có thể được sử dụng để tạo ra các sản phẩm mới. Công nghệ này có thể sử dụng carbon làm nguyên liệu đầu vào, giúp các công ty đạt được mục tiêu giảm phát thải carbon. Vào tháng 2/2025, họ đã huy động được 4,75 triệu Euro (5 triệu USD) vốn hạt giống từ các nhà đầu tư công-tư High-Tech Gründerfonds, Aurum Impact, và UnternehmerTUM Funding for Innovators.
Nếu tìm một ví dụ khác gần gũi với cuộc sống hơn, người ta có thể tìm thấy 10 công ty spinoff trong lĩnh vực y sinh được ra đời từ những thành quả của Viện Francis Crick, một trung tâm nghiên cứu y sinh được thành lập vào năm 2010 tại Anh. Mỗi công ty đều có các khám phá mới trong lĩnh vực liệu pháp tế bào, vaccine, công nghệ y tế và liệu pháp phân tử nhỏ, hứa hẹn những liệu pháp điều trị tiên tiến trước nay chưa từng có về điều trị ung thư, bệnh tự miễn hay các thuật toán AI dựa trên hình ảnh không xâm lấn để phát hiện và theo dõi chính xác theo thời gian thực sự tiến triển, đáp ứng với liệu pháp và tái phát của ung thư máu mà không cần sinh thiết tủy xương gây đau đớn và chấn thương... Cho đến nay, các công ty này đã tuyển dụng hơn 300 người và huy động được hơn 350 triệu bảng Anh cho các phát triển tiếp theo.
Những gì diễn ra ở những nền khoa học tiên tiến cho thấy, một công ty spinoff có thể là cách tốt nhất để tập hợp một nhóm các nhà khoa học và chuyên gia tận tâm và thu hút nguồn đầu tư đáng kể cần thiết để phát triển công nghệ. Người hưởng lợi, khi ấy là xã hội và nhà nước thông qua việc được thụ hưởng những sản phẩm tốt cũng như việc làm mới, tiền thuế thu về.
Lâu nay, người Việt Nam quen thuộc với các starup mà chưa biết nhiều về dạng công ty spinoff, những doanh nghiệp nảy sinh từ phát hiện mới trong quá trình R&D tại các trường, viện, những công ty mà theo GS. Trần Xuân Hoài (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) là "một khối gắn kết cố định phòng thí nghiệm – nhà nghiên cứu sáng tạo – nhà sản xuất, nó vừa tạo quyền chủ động cho nhà sáng tạo, vừa giúp nhanh chóng đưa sản phẩm công nghệ cao ra thị trường. Những doanh nghiệp này là những hạt giống của công nghệ nội tại, thường rất bền vững trong khi các doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) là nơi để hấp thụ và lan tỏa công nghệ từ mọi nguồn trên thế giới".
Nhưng khi những khối tri thức mới, khối công nghệ nội sinh mắc kẹt trong phòng thí nghiệm ở các trường, viện do những quy định lạc hậu và lỗi thời, chắc hẳn không chỉ nhà khoa học mà cả nhà nước, doanh nghiệp và xã hội đều phải hứng chịu thiệt thòi.
Vậy cách nào để chúng ta có thể sửa chữa những sai lầm và lạc hậu này? (Còn tiếp)
Bài đăng KH&PT số 1366 (số 42/2025)
Thanh Nhàn
