Trong khi đó, sức khỏe tâm thần là một yếu tố vô cùng quan trọng trong quá trình phục hồi và tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng trước các thảm họa thiên tai.
![]() |
Trận lũ phá tan hoang khu vực bản trung tâm của xã Hồ Bốn, Mù Cang Chải, Yên Bái vào tháng 8/2023. Ảnh: Việt Cường |
"Hãy học thay cho con của chú", đó là lời nhắn nhủ mà anh H.V.T (32 tuổi) nói với những đứa trẻ tại trường mầm non mà đứa con của anh từng theo học. Trận lũ kinh hoàng quét qua thôn Làng Nủ (Phúc Khánh, Bảo Yên, Lào Cai) đã cùng một lúc cướp đi cả 5 người thân trong gia đình anh, trong đó có cả 3 con nhỏ của anh T.
Trường hợp đau thương này là một trong hàng ngàn những trường hợp tương tự xuất hiện mỗi khi thiên tai giáng xuống. Chỉ riêng cơn cuồng nộ Yagi quét qua Việt Nam kể từ ngày 07/09 đã khiến cho 200 nghìn ngôi nhà, hàng trăm điểm trường bị hư hỏng ở Quảng Ninh và Hải Phòng - hai nơi cơn bão đặt chân đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam - và khiến cho 24 người tử vong và gần 2000 người bị thương. Mưa lớn do hoàn lưu bão Yagi cũng gây lũ lụt nghiêm trọng trên diện rộng và kéo theo đó là những chuỗi ngày diễn ra sạt lở và lũ quét kinh hoàng cướp đi sinh mạng của gần 400 người, trong đó Lào Cai bị thiệt hại nặng nhất với 150 người.
Nhưng những thiệt hại khủng khiếp kể trên mới chỉ là những thiệt hại hữu hình, bởi đằng sau đó còn là những thương tổn tâm lý không thể đo đếm được mà những người sống sót như anh T có thể phải đối mặt trong nhiều năm về sau dù cơn bão đã đi qua từ lâu.
Thách thức tâm lý dài hạn
Mất ngủ, sụt cân, cảm thấy tuyệt vọng, bất lực,... là những phản ứng phổ biến mà nhiều người phải đối mặt khi trải qua những biến cố cuộc đời. Và "thiên tai cũng có thể tạo ra những phản ứng nhất định trong chúng ta, và điều đó rất tốn kém cho một quốc gia", ThS. Andrea Chan - ThS. Tham vấn tâm lý, Đại học Monash (Úc) cho biết tại hội thảo "Sức khỏe tâm thần cộng đồng sau thiên tai: Bài học kinh nghiệm và khuyến nghị ứng phó" do Trung tâm Tham vấn, Nghiên cứu và Phát triển Cộng đồng - CORE (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam - VUSTA) tổ chức vào cuối tháng 9.
Các vấn đề rối loạn căng thẳng sau chấn thương hay các phản ứng căng thẳng cấp tính là những vấn đề rất phổ biến. Chẳng hạn, "một số người có thể sợ hãi khi nhìn thấy nước, hoặc hồi tưởng lại những ký ức cũ. Một số người khác có thể quay sang rượu hoặc trút giận vì họ rất lo lắng và không biết cách quản lý cơn giận của mình. Một số người lại có thể mắc chứng trầm cảm và lo âu", ThS. Andrea Chan chỉ ra những vấn đề phổ biến nhất. Trong số những nạn nhân sau thảm họa, trẻ em là một trong những đối tượng dễ bị tổn thương hơn cả, đặc biệt là khi bị tách rời gia đình. Các cặp vợ chồng đã mất đi bạn đời của mình cũng đối mặt với những thách thức về tâm lý. "Họ sẽ nuôi dạy con cái như thế nào? Về phương diện sinh kế, họ sẽ hỗ trợ gia đình ra sao? Điều này lại tiếp tục tạo thêm áp lực cho gia đình", ThS. Andrea Chan cho biết. "Người cao tuổi - những người không di chuyển được hoặc không thể kiếm sống - cũng là những người dễ bị tổn thương nhất khi giờ đây họ phải sống trong một ‘thế giới’ mới".
Việc hỗ trợ về tâm lý sau thảm họa ở Việt Nam đang là một khoảng trống rất lớn. Các hệ thống công cụ để đánh giá về những sang chấn, ảnh hưởng về tâm lý còn chưa đủ độ tin cậy để có thể xác định các hoạt động can thiệp. Đại diện tổ chức ChildFund Vietnam |
Nhìn chung, về mặt dài hạn, những tổn thương tâm lý từ thảm họa có thể gây căng thẳng mãn tính, dẫn đến các vấn đề như lo âu, trầm cảm và nỗi sợ hãi dai dẳng về các thảm họa trong tương lai. "Một số người có thể phát triển chứng sợ hãi, trở nên tê liệt khi nghe thấy tiếng sấm hoặc chớp. Những hồi tưởng về thảm họa cũng điều phổ biến và rất đáng sợ", ThS. Andrea Chan cho biết. Bên cạnh đó, áp lực kinh tế - xã hội cũng góp phần làm tăng căng thẳng về sức khỏe tâm thần, chẳng hạn như việc phải tìm kiếm việc làm mới, nhà ở hoặc sinh kế mới - những bài toán rất tốn kém, đặc biệt là đối với các bậc cha mẹ đơn thân. "Sự phát triển của trẻ em và mối quan hệ gia đình có thể bị ảnh hưởng rất nhiều, và điều này có thể trở thành một chu kỳ lặp lại trong tương lai cho thế hệ tiếp theo, tạo ra một cộng đồng dễ bị tổn thương hơn", ThS. Andrea Chan cho biết thêm.
Trong khi đó, sự thiếu hụt các dịch vụ tham vấn tâm lý tại Việt Nam đã tồn tại từ lâu. Theo phản ánh của báo Sức khỏe & Đời sống năm 2023, Việt Nam có khoảng 14 triệu người mắc chứng rối loạn tâm thần, song, cả nước chỉ có 143 bác sĩ tâm lý lâm sàng và chuyên gia trị liệu tâm lý. Chưa kể đến, các dịch vụ phục hồi chức năng tâm thần còn rất hạn chế và không có dịch vụ sức khỏe tâm thần chính thức nào dành cho những người bị ảnh hưởng bởi thiên tai, như lũ lụt, hạn hán và dịch bệnh (bao gồm cả đại dịch COVID-19), theo thông tin từ Cục quản lý Khám chữa bệnh.
"Việc hỗ trợ về tâm lý sau thảm họa ở Việt Nam đang là một khoảng trống rất lớn. Trong các đánh giá nhanh của các tổ chức liên quan đến ứng phó với biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai, các hệ thống công cụ để đánh giá về những sang chấn, ảnh hưởng về tâm lý còn chưa đủ độ tin cậy để có thể xác định các hoạt động can thiệp", đại diện tổ chức ChildFund Vietnam cho biết.
Bài học từ kinh nghiệm quốc tế
Nhận thấy tầm quan trọng của việc hỗ trợ tâm lý cho nạn nhân sau thảm họa, nhiều quốc gia trên thế giới đã có những giải pháp từ ngắn hạn đến dài hạn để giúp giảm thiểu gánh nặng tâm lý cho người dân. Một trong những ví dụ tiêu biểu là Nhật Bản - một trong những quốc gia phải đối mặt với rất nhiều loại hình thiên tai như động đất, sóng thần, núi lửa, bão, lũ lụt,... trong đó có lẽ không ai có thể quên thảm họa kép động đất - sóng thần vào tháng 3/2011 khiến gần 16.000 người thiệt mạng, 2.572 người mất tích, hơn 6.000 người bị thương và hơn 200.000 người mất nhà cửa. Theo TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền - Giảng viên Khoa Công tác xã hội, trường Đại học Lao động - Xã hội, Việt Nam, khác với việc thực hiện một loạt các hoạt động để cứu trợ về mặt tâm lý như Philippines nhưng phân công trách nhiệm giữa các bên chưa rõ ràng, Nhật Bản chia quá trình hỗ trợ ra làm ba giai đoạn: (1) hỗ trợ ngắn hạn, can thiệp ngay sau thiên tai; (2) can thiệp trung hạn, trong khoảng từ sáu tháng đến một năm sau thảm họa; và (3) hỗ trợ dài hạn, từ 1-5 năm sau đó.
Theo đó, ngay sau thiên tai, Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội Nhật Bản thành lập Nhóm Hỗ trợ Tâm thần Thảm họa, bao gồm các chuyên gia tâm lý và y tá, cung cấp tư vấn tâm lý tại các khu vực bị ảnh hưởng và triển khai dịch vụ tư vấn từ xa qua đường dây nóng. Sau khi thiên tai qua đi, quốc gia này thành lập các Trung Tâm Phục Hồi Cộng đồng, cung cấp tư vấn cá nhân, nhóm, và hỗ trợ cho các đối tượng yếu thế, các chương trình dịch vụ về chăm sóc sức khỏe tâm thần, y tế, và giáo dục được tích hợp trong chăm sóc sức khỏe tổng quát. bên cạnh đó, UNICEF tài trợ và tiến hành chương trình phục hồi trẻ em. Sang đến giai đoạn hỗ trợ dài hạn, Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội thành lập ba trung tâm chăm sóc sức khỏe tâm thần lớn tại Iwate, Miyagi, và Fukushima để hỗ trợ tâm lý lâu dài cho nạn nhân, nhà cung cấp dịch vụ y tế, và phát triển năng lực cho cộng đồng địa phương. Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật Bản, đặc biệt là Bộ Y tế Nhật Bản, cũng đã hợp tác với các tổ chức quốc tế như WHO và các học viện trên khắp lãnh thổ Nhật Bản để phát triển các nghiên cứu dài hạn về tác động tâm lý của thảm họa để giúp chính phủ hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của nạn nhân, từ đó điều chỉnh các chương trình hỗ trợ cho phù hợp hơn.
Theo TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền, bài học mà Việt Nam có thể rút ra từ kinh nghiệm của Nhật Bản là: phải có sự chuẩn bị từ trước. "Không phải sau thảm họa kép năm 2011 thì Nhật Bản mới chuẩn bị mà họ đã có kế hoạch từ những năm 1995", bà cho biết. Chính phủ Nhật Bản đã tổ chức các buổi hội thảo thường niên về sức khỏe tâm thần trong thảm họa, bao gồm điều trị rối loạn căng thẳng sau sang chấn và thu hút sự tham gia của 12.000 chuyên gia sức khỏe tâm thần, giúp họ có sẵn lực lượng hỗ trợ khi thảm họa xảy đến. Bên cạnh đó, quốc gia này có sự phối hợp rất tốt giữa các tổ chức trong và ngoài chính phủ, trong đó Bộ Y tế Nhật Bản giữ vai trò điều phối và kết hợp với nhiều bên khác. Và điều quan trọng là, Nhật Bản có một lộ trình rất rõ ràng qua ba giai đoạn: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, nhờ đó "thời gian can thiệp của họ rất bao quát, trong khi ở Philippines, người dân chỉ được can thiệp sơ cứu ban đầu và có rất ít người được tư vấn chuyên sâu", TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền cho hay.
Từ góc nhìn của Trung tâm Tham vấn, Nghiên cứu và Phát triển Cộng đồng (CORE), có một số giải pháp mà Việt Nam có thể thực hiện trong thời gian tới để lấp đầy dần khoảng trống trong công tác hỗ trợ sức khỏe tâm thần cho người dân sau thảm họa, bao gồm: triển khai các đội cứu tâm lý ngay lập tức để có thể hỗ trợ những trường hợp khẩn cấp; thiết lập các trung tâm hỗ trợ về sức khỏe cộng đồng dài hạn tại các địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề và đặt tại các trạm y tế của địa phương hay các trung tâm y tế của huyện; cung cấp các dịch vụ tư vấn tại trường học để hỗ trợ cho trẻ em và thanh thiếu niên; tăng cường năng lực y tế về hệ thống y tế để dịch vụ hỗ trợ tâm lý tại nơi làm việc; kêu gọi sự tham gia của tổ chức quốc tế và chính phủ. Bên cạnh đó, cần phải theo dõi và đánh giá sức khỏe tâm thần cộng đồng dài hạn để thay đổi các hành động hỗ trợ và có thể học được những bài học để ứng phó cho các cộng đồng trong tương lai. Và "cần nhiều hơn các nguồn lực,hướng đến việc xây dựng một cơ sở hạ tầng sức khỏe tâm thần bền vững, chịu được các thảm họa tại các khu vực dễ gặp thiên tai", Trung tâm này đề xuất. Dù không đơn giản, song đây là điều rất cần thiết trong bối cảnh kể từ năm 1993 tới nay, trung bình mỗi năm có bốn cơn bão đổ bộ vào Việt Nam và cứ hai năm một lần lại có một cơn xếp vào loại rất mạnh (từ cấp 12 trở lên), theo dữ liệu thống kê từ Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia, chưa kể đến các loại hình thiên tai khác như sạt lở đất, hạn hán, và nhiều dịch bệnh trực chờ xảy đến trong tương lai.
Đăng số 1315 (số 43/2024) KH&PT
Mỹ Hạnh
