Con người, những kẻ keo kiệt nhận thức (cognitive misers), mặc định chọn con đường tốn ít công sức trí óc nhất, đã học cách gọi sự lười biếng ấy bằng AI tạo sinh với vỏ ngoài hiệu quả, tiện lợi. Ít suy nghĩ hơn nhưng vẫn đạt hiệu quả công việc, chúng ta sẽ đón nhận không chút do dự, rồi tự huyễn hoặc rằng mình đang học được nhiều hơn, làm việc hiệu quả hơn.
Trí óc, cũng như thể xác, tuân theo quy luật cái gì không dùng đến thì sẽ thui chột và bị tước đi. Những kỹ năng của con người được mài giũa không phải vì ta thực sự yêu sự gắng sức tìm tòi, mà bởi ta không thể lẩn trốn việc nỗ lực mỗi ngày để sinh tồn. Nay một cái máy đứng nơi ngưỡng cửa, ngỏ ý làm những việc nặng nhọc thay ta, và ta - vốn luôn chuộng những con đường dễ đi sẽ nghiễm nhiên đón lấy mà chẳng cần ai thuyết phục. Nhưng trớ trêu thay, một chân lý vớ được mà không phải vật lộn thì chẳng bao giờ thật sự thuộc về mình; nó chảy qua tai như "nước đổ lá khoai", để lại trong ta sự khô khan như chưa từng ghé qua.
Ảnh: WoodenheadWorld/Getty Images.
Công cụ càng dễ dùng, ta càng ít hoài nghi nó; và càng ít hoài nghi, ta càng ít suy nghĩ. Kẻ tự tin vào năng lực của mình và có tư duy phản biện sẽ biết hoài nghi, tranh luận với máy để ngày càng hoàn thiện, mài sắc trị thức; kẻ dựa dẫm vào máy sẽ cứ thế mặc nhiên sử dụng kết quả do máy đưa ra. Và khoảng cách giữa người chủ động học hỏi và kẻ thụ động tư duy sẽ ngày càng nới rộng.
Ai là đối tượng ít hoài nghi nhất và dễ bị tổn thương nhất? Những đứa trẻ. Nếu là người trưởng thành có học vấn đối diện những câu trả lời do AI cung cấp với cả một kho kinh nghiệm, một đời phán đoán của riêng mình để đặt lên bàn cân; anh ta có thể nói không, điều đó sai, vì có những điểm tựa là nền tảng học vấn và trải nghiệm. Dù vậy, ngay cả người trưởng thành cũng không miễn nhiễm với sự phụ thuộc vào AI. Còn với những đứa trẻ mới bắt đầu tiếp thu kiến thức không có điểm tựa vững chãi nào dưới chân, chưa kịp tích lũy những mối hoài nghi và tư duy phản biện, kiểm chứng khách quan, khi cho trẻ dùng AI tạo sinh là ta đã trao cỗ máy nghĩ thay, làm thay với những câu trả lời có vẻ thuyết phục nhất, lọt tai nhất, các em sẽ không đủ sức thảo luận hoặc kháng cự lại, và các em sẽ dễ tin một cách khờ khạo.
Người trẻ có thể thậm chí còn tin lời máy hơn chính mình, hơn lời thầy cô, hơn cả chứng cứ rành rành trước mắt - bởi, tin và sử dụng kết quả "ăn sẵn" dễ dàng biết bao nhiêu so với suy nghĩ phản tư là thứ lao động cực nhọc nhất trên đời. Một đứa trẻ đã nếm vị ngọt của việc "đúng" mà chẳng cần mất công để "trở nên đúng" sẽ hiếm khi tự nguyện quay về với nhọc nhằn suy nghĩ làm chi.
Suy yếu những thói quen nhận thức là điều nguy hiểm, vì xét cho cùng, một nền văn minh chỉ cách sự suy thoái đúng một thế hệ không chịu đào sâu suy nghĩ. Bởi không chỉ sống trong tri thức sách vở, một nền văn minh chỉ được duy trì khi các thế hệ nối tiếp thế hệ còn đủ sức đọc, hoài nghi, và viết nên những chương kế tiếp. Nếu một thế hệ phó thác quá trình gian khổ trong suy nghĩ, tìm tòi, hoài nghi, phản biện ấy cho một cái máy và thoải mái trong sự giao phó đó, thì sợi dây trí tuệ cứ thế teo mòn.
Đây là điểm khác biệt quan trọng của AI tạo sinh so với nhiều công cụ trước đây. Nếu như tính bỏ túi chủ yếu thay thế việc tính toán, các công cụ tìm kiếm trên Intenet chủ yếu thay đổi cách tiếp cận thông tin, còn AI tạo sinh tham gia trực tiếp vào những công đoạn vốn được xem là cốt tủy của tư duy: diễn giải, lập luận, tổng hợp và viết lách.
Mối nguy này âm thầm, vì sự teo mòn ấy bề ngoài chẳng gây ra chấn động nào đáng kể ngay lập tức với nền văn minh này, và chính vì thế mà người ta xem nhẹ nó.
Ghi chú - Một vài bằng chứng khoa học về tình trạng "nợ nhận thức"
Thực tế cho thấy trong khi những người biết dùng AI, vật lộn với nó, hoài nghi nó, vẫn có thể trở nên mạnh mẽ hơn, thì những người phó thác suy nghĩ vào nó thì dần dần sẽ "nợ nhận thức", và teo dần khả năng suy nghĩ độc lập.
Một nghiên cứu năm 2025 của MIT Media Lab [2], nghiên cứu những người tham gia viết luận bằng mô hình ngôn ngữ lớn LLM, hoặc bằng công cụ tìm kiếm, hoặc không dùng gì, đồng thời đo hoạt động não bằng điện não đồ. Nhóm dùng LLM kém hơn, ở cả các hoạt động thần kinh, ngôn ngữ lẫn hành vi, và cho thấy mức kết nối não giảm đáng kể so với nhóm không dùng công cụ. Thậm chí, phần lớn người dùng LLM không thể trích lại một câu nào trong bài luận họ vừa viết. Các tác giả gọi cái giá tích lũy này là "nợ nhận thức" (cognitive debt). (Đây là bản tiền ấn, chưa qua bình duyệt.)
Một nghiên cứu khảo sát trên 666 người [3] tìm thấy mức tỷ lệ nghịch đáng kể giữa việc dùng công cụ AI thường xuyên và năng lực tư duy phản biện, với việc "đẩy tải nhận thức" (cognitive offloading) là yếu tố trung gian - và đáng chú ý, người trẻ phụ thuộc AI nhiều hơn và có điểm tư duy phản biện thấp hơn.
Một nghiên cứu của Microsoft Research và Carnegie Mellon trên 319 người lao động tri thức [4] cho thấy mối liên quan giữa lạm dụng AI tạo sinh và cơ chế lười biếng: càng tin tưởng vào AI thì càng ít tư duy phản biện, còn càng tự tin vào năng lực bản thân thì càng tư duy phản biện nhiều hơn.
---
Nguồn tham khảo
[1] Eric Hoffer - The True Believer
[2] Kosmyna và cộng sự (2025). Your Brain on ChatGPT. arXiv:2506.08872. https://arxiv.org/abs/2506.08872
[3] Gerlich, M. (2025). AI Tools in Society: Impacts on Cognitive Offloading and the Future of Critical Thinking. Societies 15(1):6. https://www.mdpi.com/2075-4698/15/1/6
[4] Lee và cộng sự (2025). The Impact of Generative AI on Critical Thinking (Microsoft Research & Carnegie Mellon, CHI '25). https://www.microsoft.com/en-us/research/wp-content/uploads/2025/01/lee_2025_ai_critical_thinking_survey.pdf