Phát hiện bất ngờ
Tình trạng khai thác hải sản quá mức ở vùng biển ven bờ Đông Nam Á đã được ghi nhận từ những năm 1970. Trong khi phần lớn các nghiên cứu trước đây đều chỉ ra sự suy giảm của nghề cá ven bờ (gần bờ), nghiên cứu mới trên tạp chí Fisheries Science lại mang đến một góc nhìn bất ngờ. Nhìn chung, nghề cá trong khu vực đang ở tình trạng tốt hơn so với mặt bằng toàn cầu, xét về số lượng quần thể cá bị khai thác quá mức và số lượng quần thể chưa khai thác hết sản lượng cho phép.
Phát hiện này dựa trên 105 đánh giá tài nguyên do các chính phủ và nhà nghiên cứu thực hiện từ năm 2018 đến 2022 ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Các đánh giá này bao gồm cá nổi (cá sống ở vùng nước mở), cá ngừ ven bờ và các loài sinh vật đáy, với lần lượt 63%, 50% và 38% số quần thể ở khu vực Đông Nam Á được phân loại chưa bị khai thác hết mức.
"Tài nguyên hải sản ở Đông Nam Á vẫn còn dồi dào", Takashi Fritz Matsuishi, giáo sư ngành khoa học thủy sản tại Đại học Hokkaido (Nhật Bản), tác giả nghiên cứu, cho biết. Theo ông, nhiều nghiên cứu chỉ ra tình trạng khai thác quá mức ở khu vực không dựa trên các đánh giá định lượng toàn diện.
11 quốc gia Đông Nam Á nằm trên một vùng biển rộng lớn, với tổng diện tích thềm lục địa hơn 3,5 triệu km² - lớn hơn cả Ấn Độ - và các vùng đặc quyền kinh tế rộng gần 9,5 triệu km² - tương đương diện tích Trung Quốc. Vùng biển này có rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và châu thổ sông, thuộc nhóm các vùng biển đa dạng sinh học nhất hành tinh.
Nghiên cứu của Matsuishi phát hiện, 43% trữ lượng cá ở Đông Nam Á vẫn chưa bị khai thác hết sản lượng cho phép – cao gấp 3,6 lần mức trung bình toàn cầu là 11,8%, theo báo cáo SOFIA 2024 của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO). Trong khi đó, 33% bị khai thác quá mức (so với mức trung bình 37,7% của toàn cầu, và 24% được khai thác tối đa một cách bền vững (so với mức trung bình 50,5% toàn cầu).
Theo dữ liệu của FAO được nghiên cứu trích dẫn, sản lượng đánh bắt ở Đông Nam Á đã tăng đều từ năm 1950 đến cuối những năm 2010. Từ năm 1993 đến 2022, sản lượng tăng thêm 7,1 triệu tấn – mức tăng lớn nhất trong tất cả các khu vực trên thế giới. Đến năm 2022, sản lượng khai thác của Đông Nam Á đạt 18 triệu tấn, chiếm 19% sản lượng toàn cầu. Indonesia, Việt Nam và Myanmar là ba nước đóng góp sản lượng nhiều nhất. Sau khi đạt đỉnh vào năm 2018, sản lượng khai thác ở Đông Nam Á đã giảm và hiện đang ổn định ở mức cao.
![]() |
Các ngư dân ở cảng cá Klidang Lor fishing, Bantang, Indonesia. Nguồn: CC |
Con đường độc đáo đến nghề cá bền vững
Khoảng 9,4 triệu người, tức 1,4% dân số Đông Nam Á, làm nghề khai thác thủy sản – cao hơn ba lần mức trung bình toàn cầu (0,42%), theo ghi nhận trong nghiên cứu. Tuy nhiên, năng suất khai thác lại đứng thứ hai từ dưới lên, chỉ hơn khu vực châu Á trừ Đông Nam Á và đạt 68% mức trung bình toàn cầu, chủ yếu do sự phổ biến của nghề cá quy mô nhỏ và đánh bắt thủ công ở Đông Nam Á. Ước tính 90% ngư dân trên toàn cầu làm nghề cá quy mô nhỏ, đóng góp khoảng 40% sản lượng thủy sản. Tuy định nghĩa nghề cá quy mô nhỏ còn phức tạp và khó đo lường, nghiên cứu ước tính tỷ lệ ngư dân đánh bắt thủ côngở Đông Nam Á vượt mức trung bình toàn cầu.
Nghề cá quy mô nhỏ có nhiều lợi thế như năng suất thấp nên tạo được nhiều việc làm mà không phải khai thác quá mức; công cụ đánh bắt nhỏ và ít tác động đến hệ sinh thái; lượng cá đánh bắt mỗi lần ít nên đảm bảo chất lượng và độ tươi ngon cao, có thể bán với giá tốt. Kết quả là đời sống của ngư dân quy mô nhỏ khá tốt, họ lạc quan với nghề, góp phần vào việc phát triển nghề cá bền vững. Tuy nhiên, việc kiểm soát hoạt động đánh bắt của họ rất khó khăn, nên cần xây dựng các khung quản lý phù hợp như mô hình đồng quản lý.
Ngoài ra, sự đa dạng sinh học cao của vùng biển Đông Nam Á tạo nên mô hình khai thác đa loài và ngư cụ không có tính chọn lọc loài. Những năm gần đây, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy ngư nghiệp đa loài không chọn lọc có khả năng chống chịu tốt hơn với tình trạng khai thác quá mức, đồng thời ổn định được sản lượng và thu nhập của ngư dân.
"Truyền thông thường tập trung vào những câu chuyện bi quan như tài nguyên thủy sản đang suy giảm do khai thác quá mức hay biến đổi khí hậu đang làm giảm sản lượng khai thác một số loài", Matsuishi nói. "Dù các vấn đề đó có tồn tại, nghiên cứu cho thấy sản lượng khai thác trong khu vực vẫn tăng, và việc phát triển nghề cá bền vững vẫn hoàn toàn khả thi. Việc ngư dân cảm thấy tội lỗi vì nghĩ rằng mình đang góp phần vào khai thác quá mức hay gây hại cho hệ sinh thái là một hiểu lầm".
Bảo vệ nguồn lợi còn dồi dào
Matsuishi kêu gọi các chính phủ Đông Nam Á hành động quyết liệt để bảo vệ các nguồn lợi thủy sản hiện vẫn dồi dào. "Tôi hy vọng các chính phủ sẽ nhận ra rằng tài nguyên thủy sản ở Đông Nam Á không bị suy giảm và tự tin thực hiện các chính sách nhằm duy trì tình trạng dồi dào hiện tại của các nguồn tài nguyên này".
Trên thực tế, các nước Đông Nam Á đã áp dụng nhiều biện pháp quản lý đánh bắt như cấp phép, phân vùng, quy định ngư cụ, thiết lập các khu bảo tồn biển và khu vực cấm đánh bắt. Đặc biệt, nỗ lực loại bỏ đánh bắt bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) đang được đẩy mạnh.
Bên cạnh đó, Matsuishi nhấn mạnh các nước Đông Nam Á phải duy trì quyền kiểm soát khu vực đối với nghề cá. "Tài nguyên thủy sản Đông Nam Á phải luôn nằm trong phạm vi quản lý và quyền tài phán của các quốc gia Đông Nam Á", Matsuishi nói.
Ông cảnh báo các chính phủ nên chú ý đến 33% nguồn lợi cá của khu vực đang bị khai thác quá mức; nếu tình trạng này vẫn tiếp diễn, đặc biệt ở các khu vực ven bờ phổ biến nghề đánh bắt thủ công, nó có thể đe dọa sinh kế địa phương và làm suy yếu an ninh lương thực cho 681 triệu người dân Đông Nam Á.
"Nghề cá Đông Nam Á là hình mẫu toàn cầu về nghề cá bền vững", Matsuishi nói, "và điều quan trọng là chúng phải được duy trì trong trạng thái khỏe mạnh và chống chịu tốt".
Nguồn:
[1] https://link.springer.com/article/10.1007/s12562-025-01854-w
Trà My
