Trong cuốn Chiến dịch diệt chuột ở Hà Nội - Đế quốc, dịch bệnh và sự "hiện đại" ở Việt Nam thời Pháp, tác giả Michael G. Vann - tiến sĩ sử học, giáo sư tại Đại học Bang California tại Sacramento, Mỹ - gọi chuột là 'linh vật' của quá trình hiện đại hóa. Tàu hỏa, cảng biển, giao thông liên châu lục nhằm khai thác thuộc địa trên quy mô toàn cầu đã giúp những con chuột ngao du và chiếm lĩnh mọi ngóc ngách, nhất là ở các kinh kỳ mới. Các tuyến đường được thiết lập để phục vụ thương mại đế quốc đồng thời trở thành những hành lang lan truyền mầm bệnh sinh học.
Đến Hà Nội những năm đầu thuộc địa hóa đô thị, chuột còn có một thiên đường mới: hệ thống cống ngầm.
Để xây dựng một thủ phủ thuộc địa mang dáng dấp châu Âu, người Pháp tiến hành cải tạo không gian đô thị, mở rộng đường sá, xây dựng các công trình công cộng và phát triển hệ thống thoát nước. Cống ngầm là một thành tựu quan trọng của kỹ thuật vệ sinh hiện đại, cho phép thu gom, dẫn nước thải ra khỏi khu dân cư, cải thiện môi trường sinh hoạt và hỗ trợ công tác phòng chống dịch bệnh. Nhưng những đường ống tối, ẩm cũng tạo thành môi trường thuận lợi cho chuột trú ngụ, di chuyển, sinh sản và quay lại phá hoại đời sống ngay ở những khu phố Pháp sang trọng nhất. Đây là nghịch lý của quá trình hiện đại hóa mà Vann muốn phơi bày: một thế giới được cải tạo bằng lý trí chưa chắc đã trở thành nơi con người làm chủ được những hệ quả do chính mình tạo ra.
TS Michael G.Vann thuyết trình về nghiên cứu của mình trong buổi trò chuyện "Lịch sử Đông Dương qua câu chuyện cuộc săn diệt chuột tại Hà Nội", Heritage Space, Hà Nội, chiều 17/3/2019. Ảnh: Heritage Space
Tác dụng phụ của chính sách
Năm 1902, để đối phó với tình trạng chuột sinh sôi trong thành phố, chính quyền Pháp tổ chức những đội săn bắt chuyên nghiệp. Nhân công được huy động xuống hệ thống cống ngầm, nhận nhiệm vụ tiêu diệt chuột và báo cáo số lượng bắt được.
Nhưng số lượng chuột bị tiêu diệt vẫn không đáp ứng được mục tiêu của chính quyền. Chiến dịch săn bắt trong hệ thống cống ngầm vừa tốn kém vừa gặp nhiều khó khăn cũng như sự phản đối của các lao công do điều kiện làm việc khắc nghiệt. Nhà cầm quyền sau đó chuyển sang huy động toàn dân tham gia bằng cơ chế kinh tế: thưởng tiền theo số đuôi chuột nộp về.
Cơ chế này thể hiện ba đặc điểm của quản trị duy lý hiện đại. Trước hết là tiêu chuẩn hóa: những chiếc đuôi chuột được xem như các đơn vị tương đương, bất kể sự tồn tại thực tế của loài chuột là vấn đề khó kiểm soát. Tiếp đó là lượng hóa: kết quả của chiến dịch phải chuyển thành những con số dễ thống kê, so sánh và tổng kết. Cuối cùng là tiền tệ hóa: kết quả lao động được quy đổi thành các mục tiêu kinh tế, tạo cú hích để người dân tự nguyện thực hiện mục tiêu mà chính quyền đặt ra.
Chiến dịch diệt chuột ở Hà Nội được phát triển từ một phần luận án tiến sĩ của Michael G. Vann. Ảnh: KĐ
Chính tại đây, tính duy lý bắt đầu mắc bẫy. Trong cuốn sách, Vann tái hiện những bảng thống kê săn chuột với số lượng tăng nhanh qua từng ngày. Tháng 5/1902, các báo cáo ghi nhận ngày 12 có 4.078 con, ngày 22 có 8.878 con, rồi đến ngày 30 lên tới 15.041 con. Những con số khổng lồ dường như xác nhận hiệu quả của cơ chế mới.
Thế nhưng, bi hài thay, thành phố lại thành địa bàn của chuột... cụt đuôi. Người dân đã tìm ra cách tận dụng chính sách thưởng bằng việc cắt đuôi rồi thả chuột sống. Những con chuột ấy vẫn có thể sinh sản, tiếp tục cung cấp nguồn chuột để săn bắt. Thậm chí còn có cả trại nuôi chuột để khai thác tiền thưởng.
Điều gì đã khiến một cơ chế quản trị tưởng như hợp lý khi được tổ chức bằng các quy tắc chính thức, thủ tục thống nhất, phân công chuyên môn và những phương pháp tính toán có thể kiểm tra, dự đoán - lại dẫn đến kết quả trái ngược hoàn toàn?
Câu trả lời nằm ở chỗ bộ máy hành chính muốn biến hành vi của người dân thành những biến số có thể dự đoán và điều khiển, trong khi nhìn từ dưới lên, người dân vẫn có mục đích, lợi ích và khả năng ứng biến riêng. Chiếc đuôi chuột, ban đầu chỉ là phương tiện để xác nhận kết quả, dần có giá trị độc lập với mục tiêu tiêu diệt chuột và trở thành động lực chi phối hành vi theo hướng phản bội mục tiêu.
Chiến dịch diệt chuột thất bại bởi hai sự giản lược đồng thời của chính quyền: giản lược một thực tại phức tạp thành những chiếc đuôi có thể đếm; và giản lược hành vi con người thành những phản ứng có thể điều khiển bằng tiền thưởng.
Dịch hạch và giới hạn của tham vọng kiểm soát
Thất bại đó có thể trở thành giai thoại hài hước, nếu phía sau nó không phải là nguy cơ dịch hạch.
Cuối thế kỷ XIX, đại dịch hạch lần thứ ba lan rộng qua những mạng lưới giao thông và thương mại quốc tế. Sự phát triển của khoa học vi sinh đã giúp xác định vi khuẩn gây bệnh vào năm 1894, rồi từng bước làm sáng tỏ vai trò của bọ chét và động vật gặm nhấm trong quá trình lây truyền. Nhưng sự hiểu biết về nguyên nhân dịch bệnh không đồng nghĩa với khả năng khống chế hoàn toàn các điều kiện làm dịch bệnh lan rộng.
Tại Hà Nội, sau cuộc săn chuột năm 1902, dịch hạch tiếp tục trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Chính quyền đã sớm triển khai các biện pháp vệ sinh và kiểm soát dịch bệnh, theo dõi số trường hợp mắc và tử vong. Nhưng quá trình quản trị dịch tễ gặp khó khăn trong một xã hội thuộc địa đầy những khác biệt về điều kiện sống và quan hệ quyền lực.
Cuốn sách cho thấy ngay cả những số liệu dịch tễ cũng có thể không phản ánh đầy đủ tình hình. Những trường hợp che giấu bệnh nhân, né tránh kiểm tra hoặc không khai báo cái chết làm cho khoảng cách giữa thực tại và tri thức hành chính thêm lớn. Một lần nữa, bộ máy quản trị đối diện với giới hạn của những công cụ được sử dụng để nắm bắt thực tại.
Điểm mù thống kê này có mầm mống từ quá trình hiện đại hóa thuộc địa. Khi quy hoạch Hà Nội, người Pháp xây dựng những khu phố Tây khang trang, với hệ thống cống ngầm hoàn chỉnh, nhằm tách biệt họ khỏi khu phố lộn xộn, thiếu tiện nghi của người An Nam. Nhưng lũ chuột đâu có hiểu lý lẽ ấy. Hệ thống cống ngầm giúp chúng xông vào phá phách khu phố Tây nhiều hơn và vạch mặt "văn minh" hóa ra cũng chẳng duy lý chút nào. Đằng sau những thiết kế khoa học, chính quyền thực dân thực chất chỉ muốn duy trì trật tự bất bình đẳng.
Từ những gì kể trên, cuốn sách cho ta thấy ba công cụ cơ bản của quá trình hiện đại hóa - kỹ thuật hóa điều kiện sống, quản trị duy đo lường và tổ chức quan liêu - chỉ dẫn đến đổ vỡ nếu chúng cứ bám vào lý tính công cụ mà quên đi lý tính mục đích: làm cho con người sống giao hòa với không gian tự nhiên và thực sự tương thông bình đẳng với nhau.
Nhìn cấu trúc quyền lực qua những khung tranh
Công trình nghiên cứu lịch sử của Michael G. Vann được Liz Clarke minh họa thành những hình ảnh sống động. Các khung tranh liên tục chuyển từ đường phố xuống cống ngầm, từ biệt thự Pháp sang khu dân cư bản địa, từ những cuộc họp của quan chức đến cảnh săn bắt và kiểm đếm chuột. Bản đồ quy hoạch, những tờ thống kê và những con chuột chạy xuyên qua các không gian đô thị khiến các cấu trúc quyền lực tưởng như trừu tượng trở nên có hình hài cụ thể.
Cuốn sách của Michael G. Vann với phần minh họa của Liz Clarke nằm trong Tủ sách Lịch sử bằng truyện tranh của Nhà xuất bản Đại học Oxford. Cuốn sách vừa được NXB Kim Đồng ấn hành ở Việt Nam. Ảnh: KĐ
Dựa trên ảnh chụp và bưu thiếp cổ, các khung tranh phục dựng Hà Nội đầu thế kỷ XX với sự tương phản giữa khu phố Pháp sang trọng và khu dân cư bản địa chật chội. Lối kể chuyện bằng những phân cảnh song song cho phép người đọc quan sát đồng thời thế giới của người cai trị và người bị cai trị. Ngay cả màu viền của các bong bóng thoại cũng được sử dụng để phân biệt tiếng Pháp và tiếng Việt, biến sự chia cắt ngôn ngữ và văn hóa thành một dấu hiệu thị giác.
Đặc biệt, Vann đưa bản thân mình vào khung tranh trong vai trò nhà sử học, dẫn người đọc từ kho lưu trữ đến quá trình tái dựng quá khứ.
Giọng kể châm biếm có chủ ý của tác giả cũng góp phần tô đậm thêm nghịch lý trớ trêu của quá trình hiện đại hóa. Những phương thức làm nên sức mạnh của tính hiện đại - cải tạo, phân loại, tính toán và kiểm soát tự nhiên - lại đẩy nó vào những mâu thuẫn mà không phải lúc nào cũng có thể giải quyết bằng cùng những phương thức ấy.