Những nền tảng như Coursera từng tuyên bố theo đuổi việc cung cấp các khóa học trực tuyến mở dành cho đại chúng (Massive open online courses - MOOCs). "Mở" trong cụm từ MOOCs, xét về mặt tài chính, bao hàm từ miễn phí hoàn toàn việc truy cập đầy đủ vào các tài nguyên học liệu của khóa học, đến miễn phí việc học nhưng phải trả phí cho việc chấm điểm bài tập, cấp tín chỉ hoặc chứng chỉ học thuật. Thông thường, MOOCs được sử dụng trong giáo dục bậc cao nhằm trau dồi kỹ năng và thăng tiến nghề nghiệp. Với ưu thế của học trực tuyến, mỗi khóa MOOCs có thể tiếp cận từ vài nghìn đến vài trăm nghìn lượt người học.
MOOCs từng được ca ngợi như một xu hướng giáo dục mới, rồi lại bị cho là phóng đại vai trò, thậm chí bị tuyên bố "đã chết". Mỗi bước thăng trầm của MOOCs đều gắn với các nền tảng giáo dục trực tuyến lớn do các nhà khoa học và doanh nhân khởi nghiệp thành lập, mà đầu tiên phải kể đến Udacity.
Năm 2012, Sebastian Thrun, nhà sáng lập Udacity nói với tạp chí Wired rằng trong 50 năm tới, MOOCs sẽ là một lực lượng thay đổi giáo dục đại học đến mức chỉ có 10 trường đại học sẽ tồn tại vào năm 2050, và hi vọng Udacity có cơ hội để trở thành một trong số đó. Thế nhưng chỉ một năm sau, 2013, Thrun phải thừa nhận Udacity đang cung cấp một "sản phẩm tệ hại" (lousy product) vì chưa đến 10% học viên ban đầu hoàn thành khóa học - một con số quá thấp so với tầm nhìm về giáo dục toàn cầu của ông.
Trong cùng bài báo tự phê bình sản phẩm của mình trên trang Fast Company, Thrun đưa ra một lý do khác cho thất bại này, là khi thử nghiệm kết hợp MOOCs của Udacity vào giảng dạy toán tại Đại học Bang San Jose, ông thấy rằng nó không phù hợp với người nghèo. Ông nói: "Đây là những sinh viên đến từ khu phố nghèo khó, ít có điều kiện tiếp cận máy tính, lại gặp đủ loại thách thức trong cuộc sống. Với nhóm này, hình thức học trực tuyến rõ ràng không phù hợp."
Kết quả là, Udacity đã phải xoay trục từ MOOCs sang đào tạo có trả phí cho phân khúc doanh nghiệp, với các khóa học ngắn hạn (thường kéo dài vài tháng) và có cấp chứng chỉ, gọi là nanodegree. Mô hình thu phí này dần trở nên vững chắc. Năm 2015, New York Times đưa tin rằng "sau nhiều năm thử nghiệm và thất bại, Udacity đã tìm ra một mô hình đào tạo nghề có thể mở rộng quy mô để dạy kỹ năng công nghệ cho hàng triệu người."
Tháng 10/2017, Udacity tuyên bố sẽ rút hoàn toàn khỏi các khóa học trực tuyến mở. Phó Chủ tịch công ty khẳng định MOOCs "đã chết" và nói thêm sứ mệnh của Udacity là "mang lại nền giáo dục thiết thực, giúp mọi người thăng tiến trong sự nghiệp và hoạt động kinh tế – xã hội, và MOOCs không phải là con đường để đạt được điều đó".
Ai dám dự đoán số phận như vậy của Udacity - từ tham vọng thay đổi toàn bộ giáo dục đại học đến việc chỉ tập trung vào đào tạo doanh nghiệp - tất cả chỉ trong vòng có 5 năm? Nhưng hóa ra rất nhiều người đã đoán trước được. Họ đã chỉ ra sự cường điệu của MOOCs, cả về khía cạnh kinh doanh và khía cạnh giáo dục.
![]() |
Các nền tảng giáo dục trực tuyến mở lớn đã ngừng sử dụng thuật ngữ MOOCs để mô tả các khóa học của họ, vì không còn muốn bị ràng buộc bởi các yếu tố như "mở" và "miễn phí". Nguồn: The Chronicle of Higher Education |
Gánh nặng tài chính
GS George Siemens ở Đại học Nam Úc, người đã có đóng góp trong sự phát triển ban đầu của các khóa học MOOCs hồi những năm 2008, có lẽ đã chạm gần nhất đến cốt lõi vấn đề khi chỉ ra rằng việc Udacity chuyển hướng từ giáo dục đại học sang đào tạo cho doanh nghiệp không phải vì họ nhận ra sản phẩm của mình kém chất lượng, mà bởi vì công ty... không kiếm được tiền.
Giống như hầu hết mọi thứ trên đời, MOOCs cũng cần tiền để tồn tại, và cung cấp miễn phí rõ ràng không tạo ra doanh thu. Các quỹ đầu tư mạo hiểm đã sớm đi đến kết luận rằng chiến lược của Udacity lỗ ở từng khách hàng, và càng có nhiều người dùng thì càng lỗ. Mô hình này sẽ chẳng đưa họ đến đâu, và đó chính là lý do cho quyết định chuyển hướng chiến lược.
Quá trình tương tự cũng diễn ra với Coursera - nền tảng học trực tuyến do hai giáo sư ở Đại học Standford thành lập năm 2012, hiện có khoảng 175 triệu người học toàn cầu. Tuy nhiên, điểm sáng là Coursera đã kiên trì lâu hơn Udacity trong việc cung cấp các khóa học MOOCs miễn phí cho cộng đồng. Trong vòng 10 năm, từ năm 2015 đến nay, Coursera đã cho phép học ở chế độ audit - tức học miễn phí, và chỉ phải trả phí nếu muốn được cấp chứng chỉ hoàn thành khóa học. Mô hình này mới được đặt dấu chấm hết vào tháng 7/2025, khi Coursera thay thế hoàn toàn chế độ audit bằng chế độ preview - tức chỉ được học miễn phí module đầu của khóa học, và phải trả phí để được học các module sau.
Sự chuyển đổi sang mô hình giáo dục trả phí của Udacity và Coursera làm nổi bật một nền tảng MOOCs vẫn còn miễn phí tính đến nay (tháng 9/2025) là edX. Ra đời cùng thời điểm với hai nền tảng trên, nhưng edX tìm được sự hậu thuẫn của hai tổ chức sáng lập là Đại học Harvard và Viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Mỗi trường đều đóng góp 30 triệu USD, mang lại cho edX nhiều không gian để thở hơn so với 16 triệu USD vốn đầu tư ban đầu của Coursera.
edX đã cố gắng tìm cách duy trì phần lớn dòng tiền của mình dựa vào các trường đại học và các tổ chức, thay vì chủ yếu dựa vào người học. Đội ngũ sáng lập edX vạch ra những phương hướng khai thác doanh thu rõ ràng, từ các trường muốn tạo khóa học mới trên edX hoặc tiếp cận nội dung của nền tảng này và đưa nó thành một môn học trong trường. edX cũng kiếm được tiền khi tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật cho các tổ chức muốn xây dựng khóa học chuyên nghiệp bằng mã nguồn mở của mình, thậm chí cả phí "săn đầu người" để giới thiệu nhân tài cho các nhà tuyển dụng. Trong một thời gian, dòng tiền của edX khá ổn.
Nhưng tất cả những nỗ lực này cuối cùng cũng có vẻ đuối dần: đại dịch Covid-19 xảy đến, khiến thị trường giáo dục trực tuyến biến động quá nhanh, và edX, với tư cách một công ty phi lợi nhuận, đã bị tụt lại so với Coursera. Trước tình thế đó, Harvard và MIT đã buông tay để bán lại edX cho tập đoàn giáo dục 2U với giá 800 triệu USD vào năm 2021. Từ đó, edX, với hơn 39 triệu người học, được tổ chức lại như một công ty công ích theo đuổi lợi nhuận.
2U có các cam kết ràng buộc về mặt pháp lý rằng họ sẽ tiếp tục sứ mệnh của edX là cung cấp giáo dục chất lượng cao, giá cả phải chăng, bao gồm các khóa học audit miễn phí trong vòng 5 năm tiếp theo, nghĩa là thời hạn còn lại của cơ chế audit không còn xa. Có lẽ vào khoảng giữa năm sau, các khóa học của edX sẽ không còn miễn phí nữa, giống hệt như những gì Coursera vừa chấm dứt mới đây.
Thậm chí, rủi ro có thể cao hơn, vì cuối năm 2024, 2U đã đệ đơn xin bảo hộ phá sản để tái cấu trúc hoạt động kinh doanh, hủy bỏ niêm yết và vận hành một cách khiêm tốn hơn. Không ai biết chắc điều này sẽ ảnh hưởng ra sao về lâu dài đối với edX. Nhưng hiện giờ, các hoạt động của edX không khác mấy so với những đối thủ lớn của họ là Coursera hay Udacity.
Câu chuyện của ba nền tảng giáo dục trực tuyến lớn nhất toàn cầu đã làm lộ ra những khó khăn trong việc xóa bỏ rào cản tiếp cận tri thức. Theo nhiều cách, các nền tảng này đã ngừng sử dụng thuật ngữ MOOCs để mô tả các khóa học của họ, vì không còn muốn bị ràng buộc bởi các yếu tố như "mở" và "miễn phí". Thực tế đó vô tình củng cố cho một quan điểm rằng giáo dục bậc cao vốn dĩ đắt đỏ và không phải ai cũng có thể tiếp cận.
Có lẽ, giáo dục thông qua các khóa học MOOCs chỉ thực sự "miễn phí" khi gánh nặng tài chính của nó được chuyển về vai "trùm cuối" là quốc gia. Bởi giáo dục cũng như y tế, an ninh quốc phòng, đường sá... không đơn thuần là một giao dịch thị trường – nó là hàng hóa công cộng. Đầu tư cho tri thức đồng nghĩa đầu tư cho lợi ích chung: một dân số thông minh và giàu kỹ năng hơn, những doanh nghiệp mới mẻ được khai sinh, cùng những nghiên cứu sáng tạo từ các trường đại học góp phần định hình tương lai.
Những tương tác bị đánh mất
Cây bút chuyên về giáo dục Audrey Watters chỉ ra rằng nguồn gốc thất bại của Udacity nằm ở từ "sản phẩm" và niềm tin của họ rằng một "sản phẩm" giáo dục có thể thay đổi giáo dục.
Bà đã có một loạt bài viết về các "máy dạy học" (teaching machines) – những sản phẩm đã thất bại trong việc thay đổi nền giáo dục suốt gần hai thế kỷ qua. Udacity không hoàn toàn là một "máy" dạy học, nhưng cách tư duy của những người thiết kế lại cho thấy họ nhìn nhận nền tảng này theo hướng đó. Họ tin rằng nền tảng có thể "cung cấp" giáo dục, thay vì thừa nhận giáo dục không phải là một sản phẩm, mà là một quá trình diễn ra (hoặc không diễn ra) bên trong người học. Các nền tảng tương tự dường như cũng xem việc học giống như một kiểu phơi nhiễm: chỉ cần ở gần đủ một sản phẩm giáo dục, thì ta sẽ học được.
Trước đó, năm 2003, Giáo sư Terry Anderson ở Đại học mở Athabasca, Canada, đã đưa ra một định lý liên quan đến chất lượng của giáo dục từ xa rằng nếu một trong ba hình thức thuộc "bộ ba tương tác" (giữa sinh viên – sinh viên, sinh viên – giảng viên, sinh viên – nội dung) trở nên vượt trội thì tầm quan trọng của hai hình thức còn lại có thể giảm bớt, thậm chí loại bỏ, mà không làm tổn hại đến trải nghiệm học tập của sinh viên.
Cần lưu ý rằng, những khóa MOOCs đầu tiên, ra đời trước Udacity, như khóa học Connectivism and Connective Knowledge do GS George Siemens (Đại học Athabasca) và GS Stephen Downes (Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Canada) giảng vào năm 2008 tại Đại học Manitoba chủ yếu dựa trên tương tác sinh viên – giảng viên và sinh viên – sinh viên. Các khóa MOOCs kết nối* này có cách thức vận hành khác hẳn so với các khóa học MOOCs mở rộng* dựa trên bài giảng và hệ thống quản lý học tập mà Udacity, Coursera, edX và những nền tảng tương tự cung cấp. Sinh viên có thể tham gia bằng cách sử dụng các công nghệ mà họ lựa chọn - blog, video YouTube, thảo luận đồng bộ qua Zoom, v.v. - và sự tham gia này được tổng hợp thông qua các liên kết và nguồn cấp dữ liệu RSS trên một trang web chính, công khai trên mạng.
Nhưng không chỉ các công cụ khác nhau, nền tảng học thuật của các giáo sư đằng sau những khóa học MOOCs kết nối hay MOOCs mở rộng cũng khác nhau - họ chủ yếu đến từ lĩnh vực giáo dục chứ không phải khoa học máy tính.
(Còn tiếp)
Chú thích:
* MOOCs kết nối (Connectivist MOOCs) và MOOCs mở rộng (extended MOOCs) là hai phân loại chính của MOOCs. MOOCs mở rộng ưu tiên phân phối nội dung có cấu trúc, với mục đích cụ thể cho người học là hoàn thành khóa học để đạt được chứng chỉ kiến thức nhất định về một chủ đề; trong khi MOOCs kết nối tập trung vào học tập kết nối thông qua tương tác và cộng tác, nhằm phát triển các năng lực cho người học, bao gồm tư duy phản biện, khả năng hình thành kiến thức sâu, kỹ năng xã hội và học tập suốt đời. Tuy nhiên, theo thời gian, các nền tảng MOOCs mở rộng cũng tìm cách đưa các yếu tố kết nối vào mô hình của mình để cải thiện khả năng sư phạm.
Bài đăng KH&PT số 1363 (số 39/2025)
Hồng Hạnh tổng hợp
