![]() |
Những quy định còn mang tính chất khái quát về định giá tài sản trí tuệ đã dẫn đến những bất cập trong thực tế như trường hợp MobiFone mua AVG. |
Những bất cập trong định giá
"Cách đây hơn một năm, chúng tôi muốn sử dụng một sáng chế để góp vốn thành lập một doanh nghiệp khởi nghiệp. Nhưng mang sáng chế đi định giá thì không định giá được. Chúng tôi phải loay hoay đi hỏi hết nơi này đến nơi khác nhưng vẫn không đâu làm được", GS.TS Huỳnh Trung Hải, Hiệu trưởng Trường Vật liệu (Đại học Bách khoa Hà Nội), chia sẻ với tư cách là Trưởng phòng Quản lý nghiên cứu của trường ĐHBKHN trong một hội thảo vào năm 2019.
Hơn nửa thập kỷ đã trôi qua nhưng câu chuyện vẫn không có gì thay đổi ở thời điểm hiện tại. Định giá tài sản trí tuệ đã trở thành nút thắt lớn nhất trong hoạt động góp vốn bằng tài sản trí tuệ tại Việt Nam. Khác với các giao dịch tài sản thông thường chỉ cần hai bên "thuận mua vừa bán", định giá là yêu cầu bắt buộc để góp vốn bằng tài sản trí tuệ. Theo Luật Doanh nghiệp 2020, nếu tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ hoặc vàng thì phải được định giá và quy đổi ra Đồng Việt Nam.
Về mặt quy định, có rất nhiều văn bản hướng dẫn phương pháp định giá tài sản trí tuệ ở Việt Nam. Các phương pháp này nằm trong các tiêu chuẩn thẩm định giá ở các Thông tư số 158/2014/TT-BTC, Thông tư số 28/2015/TT-BTC, Thông tư số 126/2015/TT-BTC, Thông tư số 145/2016/TT-BTC, Thông tư số 122/2017/TT-BTC, Thông tư số 06/2014/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành. Trong đó, Tiêu chuẩn thẩm định giá số 13 về thẩm định giá tài sản vô hình đã đưa ra ba cách tiếp cận trong việc xác định giá trị tài sản trí tuệ: cách tiếp cận từ chi phí, cách tiếp cận từ thị trường, cách tiếp cận từ thu nhập. Đây cũng là ba nhóm phương pháp định giá tài sản trí tuệ phổ biến trên thế giới. Ngoài ra, còn có một số phương pháp khác mang tính bổ trợ như phương pháp dựa trên quyền chọn, phương pháp dựa trên thị trường chứng khoán, phương pháp dựa trên dữ liệu duy trì hiệu lực sáng chế...
Tuy nhiên, những quy định này vẫn mang tính chất khái quát, gây khó khăn trong áp dụng thực tiễn. Bộ Tiêu chuẩn thẩm định giá tài sản từ 01 đến 13 do Bộ Tài chính ban hành hầu như chỉ đưa ra những khái niệm và nguyên tắc cơ bản, chưa có hướng dẫn chi tiết. Điều này dẫn đến sự chênh lệch trong kết quả định giá thực tế. Chẳng hạn, "Tiêu chuẩn thẩm định giá số 13 cho phép áp dụng phương pháp thu nhập, nghĩa là cho phép về mặt nguyên tắc được áp dụng nguyên tắc dự kiến lợi ích tương lai để tính toán giá trị tài sản vô hình, nhưng lại không chỉ ra cách dự kiến lợi ích tương lai như thế nào là đúng, dự kiến lợi ích tương lai như thế nào thì được xem là khả thi", PGS.TS Trần Văn Nam, Trưởng Khoa Luật, trường Đại học Kinh tế quốc dân, giải thích trong một bài viết trên Tạp chí Pháp luật và thực tiễn.
Đây chính là lý do khiến các đơn vị thẩm định giá đưa ra những dự kiến rất khác nhau trong vụ MobiFone mua cổ phần AVG vào năm 2016, với mức giá cao hơn nhiều lần giá trị thật. Theo tài liệu vụ án, trước khi mua, MobiFone đã thuê các đơn vị định giá, tuy nhiên ba nơi lại cho ba kết quả định giá tài sản vô hình của AVG rất khác nhau, chênh lệch đến hàng nghìn tỷ đồng (đơn vị thứ nhất định giá 31.329 tỷ đồng, đơn vị thứ hai là 16.530 tỷ đồng, đơn vị thứ ba là 13.448 tỷ đồng). "Việc thiếu hướng dẫn cụ thể trong định giá tài sản vô hình nói chung và tài sản trí tuệ nói riêng đã tạo ra nhiều cách hiểu và áp dụng pháp luật của các doanh nghiệp thẩm định giá, dẫn đến tình trạng giá trị của cùng một công ty bị dao động quá lớn như trên, dù thời điểm định giá cách biệt nhau không xa", PGS.TS Trần Văn Nam nhận xét.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang thiếu tổ chức định giá tài sản trí tuệ. Thực tế này thể hiện rõ qua câu chuyện của trường Đại học Bách khoa Hà Nội cách đây vài năm, "gõ cửa" khắp nơi mà vẫn không tìm được nơi đủ khả năng định giá sáng chế. Bản thân các đơn vị định giá hiện nay cho biết họ cũng gặp khó khăn trong việc áp dụng các phương pháp định giá, đặc biệt là phương pháp định giá theo thị trường vì không tìm được dữ liệu so sánh. Do vậy,hoạt động định giá tài sản trí tuệ nói chung cũng như định giá công nghệ nói riêng ở Việt Nam hiện nay "chủ yếu mang tính ước lệ", luật sư Nguyễn Văn Phúc, Công ty Luật HM&P, nhận xét trong một bài viết trên tạp chí Luật sư Việt Nam. "Điều này dễ gây rủi ro: công nghệ có thể bị định giá cao hơn thực tế, khiến doanh nghiệp nhận góp vốn chịu thiệt. Ngược lại, nếu định giá quá thấp, người sở hữu công nghệ bị đánh giá không đúng công sức".
Việc gỡ bỏ những vướng mắc trong định giá tài sản trí tuệ là một hành trình dài đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên. Ngoài việc đưa ra những hướng dẫn chi tiết về việc áp dụng các phương pháp định giá, theo các chuyên gia, Nhà nước cần khuyến khích phát triển các tổ chức trung gian chuyên định giá tài sản trí tuệ và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giá tài sản trí tuệ (thông qua việc thu thập dữ liệu từ các giao dịch chuyển giao công nghệ, nhượng quyền, mua bán sáng chế...). Những tín hiệu tích cực đã xuất hiện trong lần sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ hiện nay, theo dự thảo, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các Bộ, ngành liên quan xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giá các quyền sở hữu trí tuệ đã được giao dịch hợp pháp và các hướng dẫn chi tiết về phương pháp xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ. "Đây sẽ là dữ liệu tham khảo cho các đơn vị định giá, góp phần tháo gỡ nút thắt trong định giá tài sản trí tuệ từ lâu nay", ông Nguyễn Văn Bảy, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN), cho biết.
Bảo đảm bằng thỏa thuận thành lập công ty
Tính vô hình và bất định của tài sản trí tuệ tiềm ẩn nhiều rủi ro khiến các doanh nghiệp e ngại trong việc nhận góp vốn bằng loại tài sản đặc biệt này. Có bốn rủi ro pháp lý khi góp vốn bằng tài sản trí tuệ có thể xảy ra bao gồm: rủi ro về tính hợp pháp (chủ thể, đối tượng góp vốn không hợp pháp), rủi ro về tính ổn định (văn bằng bảo hộ bị chấm dứt, hủy bỏ hiệu lực hoặc tranh chấp của chủ thể thứ ba), rủi ro về tính kịp thời (quyền sở hữu trí tuệ gần hết hoặc đã hết thời hạn bảo hộ), rủi ro về khu vực sử dụng quyền sở hữu trí tuệ (sử dụng quyền sở hữu trí tuệ ngoài phạm vi quốc gia được bảo hộ). Những rủi ro này liên quan đến thông tin về chủ sở hữu, thời hạn bảo hộ, phạm vi bảo hộ...Đây là những thông tin quyết định giá trị của tài sản trí tuệ. Một bằng sáng chế có tiềm năng thương mại hóa lớn đến mấy cũng trở nên vô ích nếu đang vướng vào tranh chấp, có nguy cơ bị hủy bỏ hiệu lực.
Thoạt nhìn, nhiều người nghĩ rằng những thông tin quan trọng như vậy sẽ thể hiện rõ trong thỏa thuận góp vốn hoặc các văn bản tương tự, nên khó có thể nhầm lẫn được. Nhưng không ít trường hợp thực tế nhận góp vốn bằng tài sản trí tuệ xong rồi mới phát hiện ra bên góp vốn không phải là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản trí tuệ này. Nguyên nhân nằm ở "lỗ hổng" trong ghi nhận góp vốn bằng tài sản trí tuệ hiện nay, Luật Doanh nghiệp 2020 chỉ đề cập tới cam kết góp vốn (đối với công ty TNHH và công ty hợp danh) và đăng ký mua cổ phần (đối với công ty cổ phần), tuy nhiên hình thức thế nào, nội dung ra sao thì không có quy định. Do vậy, những thông tin về việc góp vốn giữa các bên hiện nay thường thể hiện trong điều lệ công ty, bao gồm "phần vốn góp và giá trị vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh; số cổ phần, loại cổ phần, mệnh giá từng loại cổ phần của cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần" (Khoản 2 Điều 24 Luật Doanh nghiệp 2020).
Tuy nhiên, điều lệ công ty thường ghi nhận về tài sản góp vốn sau khi đã được quy đổi thành giá trị của tài sản góp vốn. Việc góp vốn thành lập công ty bằng tài sản trí tuệ hiếm khi được thể hiện trên các văn bản, giấy tờ. "Và hệ quả pháp lý cho vấn đề này đó là khi có rủi ro pháp lý liên quan đến đối tượng sở hữu trí tuệ góp vốn xảy ra, bên nhận góp vốn sẽ gánh chịu các rủi ro này. Trong một số trường hợp khác, tư cách thành viên của chủ thể góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ cũng sẽ không được xác lập", theo luận văn tiến sĩ của TS. Nguyễn Thị Phương Thảo ở Học viện Khoa học xã hội.
Để khắc phục vấn đề này, các chuyên gia cho rằng Việt Nam nên bổ sung quy định về hợp đồng thành lập công ty. "Về bản chất, đây là thỏa thuận giữa các thành viên góp vốn nhằm tạo ra một thực thể pháp lý mới, trong đó nội dung chủ yếu là xác định quan hệ pháp luật giữa các thành viên góp vốn thành lập công ty. Việc xác lập hợp đồng thành lập công ty buộc các thành viên góp vốn phải thực hiện đúng nghĩa vụ góp vốn và chịu trách nhiệm nếu không thực hiện theo đúng thỏa thuận", TS. Nguyễn Thị Phương Thảo cho biết. Nhiều quốc gia trên thế giới đã quy định hợp đồng thành lập công ty là yếu tố bắt buộc phải có khi thành lập công ty. Đơn cử, theo pháp luật Nga, những người sáng lập công ty phải ký kết văn bản thỏa thuận thành lập công ty, trong đó xác định thủ tục hoạt động chung để thành lập công ty, quy mô vốn điều lệ của công ty, tỷ lệ phần vốn góp của từng thành viên sáng lập công ty cũng như số lượng, thủ tục và điều khoản thanh toán phần vốn góp đó.
"Hợp đồng thành lập công ty sẽ là cơ sở để giải quyết các vấn đề phát sinh từ hoạt động góp vốn, đặc biệt trong trường hợp không có cơ chế pháp lý điều chỉnh. Riêng đối với trường hợp thành viên góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ, hợp đồng thành lập công ty càng đóng vai trò quan trọng. Việc thiếu vắng quy định về loại hợp đồng này có thể khiến cho việc góp vốn thành lập công ty nói chung và góp vốn thành lập công ty bằng quyền sở hữu trí tuệ dễ gặp các rủi ro như rủi ro từ việc tài sản góp vốn không còn thuộc quyền sở hữu của thành viên góp vốn hay đối tượng sở hữu trí tuệ không còn được bảo hộ", TS. Nguyễn Thị Phương Thảo nhận xét.
Bài đăng KH&PT số 1371 (số 47/2025)
Thanh An
