Trước nhà của người Cơ Tu ở xã Tây Giang (Đà Nẵng), không khó để bắt gặp hình ảnh Cây Nghề (Ngải Cơ Tu) được trồng hoặc treo một nhánh trước cửa, với niềm tin rằng những nhành cây sẽ giúp xua đuổi tà ma và mang đến bình an cho gia đình. Nhánh thảo mộc ấy phản chiếu một phần thế giới quan của người Cơ Tu, nơi sinh mệnh con người và cây cỏ đại ngàn gắn bó không tách rời.
"Những tri thức dân gian về thực vật ấy thấm sâu vào đời sống văn hóa của đồng bào, thể hiện qua từng ngôi nhà Gươl, nếp vải thổ cẩm, từng nét điêu khắc cùng nền ẩm thực, y học cổ truyền và các nghi lễ thiêng liêng", TS. Lưu Đàm Ngọc Anh (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam), chia sẻ.
Cây Nghề (Ngải Cơ Tu) (Curcuma cotuana) thường được trồng hoặc treo một nhánh trước cửa, với niềm tin rằng những nhành cây sẽ giúp xua đuổi tà ma và mang đến bình an cho gia đình. Ảnh: NVCC
Người Cơ Tu (hay Cơtu, Katu, Cà Tu, K’tu) là một trong những cộng đồng cư dân bản địa lâu đời cư trú trên dải Trường Sơn - Tây Nguyên. Hiện nay, khoảng 57.000 người Cơ Tu, chiếm 75% người Cơ Tu trên cả nước, sinh sống tập trung tại miền núi phía Tây thành phố Đà Nẵng.
Với người Cơ Tu, dải Trường Sơn giống như một "kho lưu trữ sinh thái" rộng lớn - nơi cung cấp vật liệu cho mọi nhu cầu từ bữa ăn đến nếp áo, đồng thời định hình nên một hệ tri thức bản địa đồ sộ. Chính mối liên kết chặt chẽ này đã khơi gợi sự tò mò của TS. Lưu Đàm Ngọc Anh. Từ những chuyến điền dã dọc dãy Trường Sơn năm 2012, việc trực tiếp quan sát cách các cộng đồng ứng xử với tự nhiên đã thôi thúc chị đi sâu giải mã kho tàng tri thức bản địa nơi đây.
Bổ sung một lớp bản đồ thực vật học
Dự án nghiên cứu bảo tồn tri thức sử dụng thực vật của người Cơ Tu đã ra đời như thế, với sự tài trợ từ Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF).
Nghiên cứu có sự tham gia trực tiếp của những người dân Cơ Tu. Bằng vốn sống thực hành, họ đã cặn kẽ giải thích ý nghĩa của hoa lá, thảo mộc, cũng như chia sẻ những kỹ thuật dùng thực vật nhuộm vải và cách chọn loại cây để đẽo gọt thành vật dụng.
Phần việc của các nhà khoa học sau đó là thu tiêu bản theo chuẩn thực vật học, xác định tên khoa học, đối chiếu và hệ thống hóa. Cơ sở dữ liệu được nhóm thiết kế rất chi tiết, bao gồm cả vùng phân bố, đặc điểm sinh thái, kinh nghiệm chế biến và các yếu tố văn hóa đi kèm.
Qua việc chuyển hóa những hiểu biết vốn chỉ truyền miệng thành một hệ thống cơ sở dữ liệu, bộ tiêu bản và cuối cùng là nội dung trưng bày, dự án tạo ra một lớp tư liệu để di sản Cơ Tu được trao truyền và tiếp tục hiện diện trong đời sống mới.
Các nhà khoa học lắng nghe người dân Cơ Tu chia sẻ về cách sử dụng thực vật sáng tạo nên đồ dùng sinh hoạt, nhạc vụ. Ảnh: Bùi Văn Hướng
Tri thức về cây cỏ không phải chỉ người Cơ Tu mới có. Điểm đặc biệt là những hiểu biết ấy được đưa vào hầu khắp đời sống vật chất và tinh thần, từ bữa ăn, tấm vải đến nhà gươl và các nghi lễ, trên nền đa dạng sinh học của rừng núi Trường Sơn.
Chỉ tính riêng tại Tây Giang, nhóm đã ghi nhận tới 176 loài thực vật được người dân nơi đây sử dụng cho mọi mục đích - từ làm thuốc, thực phẩm, ủ men đến đan lát, nhuộm vải và phục vụ nghi lễ.
Qua những chuyến điền dã, TS Ngọc Anh nhận thấy người Cơ Tu thấu hiểu cấu trúc và dược tính của từng loài cây để ứng dụng linh hoạt vào mọi mặt đời sống. Chẳng hạn, trong ẩm thực, người dân sẽ tận dụng phần ngọn và lõi non của cây dong sậy (ri đoong) hay cây chít (a tâng) hái về làm rau sống, nấu canh.
Quá trình làm men ủ rượu lại phản ánh một sự kết hợp sinh hóa tự nhiên tinh tế. Họ lấy phần lõi giàu tinh bột của thân cây búng báng phối trộn với vỏ cây chuồn, hoặc ủ lõi cây đùng đình cùng vỏ cây chuông để tạo men ủ.
Khi ốm đau, rừng trở thành "tủ thuốc", nơi mỗi nhánh cây đều mang công dụng riêng, như lá non cây a lan được thái nhỏ nấu cháo giải cảm, quả nhỏ lại giã với muối ớt làm gia vị, những bộ phận khác có thể dùng chăm sóc phụ nữ sau sinh hoặc nấu nước xông khi cảm cúm. Rễ thạch xương bồ (a pố) được sắc nước trị sốt rét. Thân cây đậu ma núi (a đhươm/pa đùng) được giã, chắt lấy nước dùng để sát trùng vết lở loét hay thương hở.
Cây thạch xương bồ (bên trái), cây tà râm (bên phải). Ảnh: Bùi Văn Hướng
Cỏ cây góp phần định hình nét văn hóa đặc trưng
Vượt ra ngoài nhu cầu ăn uống và chữa bệnh, thực vật còn góp phần định hình nên những nét văn hóa đặc trưng. "Thuở trước, khi cây bông và nghề dệt vải chưa phổ biến, người Cơ Tu phải tìm trong rừng sâu những loại cây có vỏ phù hợp về ngâm nước, phơi khô để sáng tạo nên trang phục, trang sức cho riêng mình, cho gia đình và tặng bà con thân quý. Đặc biệt, đàn ông Cơ Tu xưa rất tự hào khi tự tay làm y phục bằng cây rừng để tặng người thương. Những bộ trang phục bằng vỏ cây đầy mộc mạc, thơm mùi nhựa cây ngày nay vẫn được đồng bào Cơ Tu mặc trong những dịp lễ hội quan trọng", TS. Ngọc Anh mô tả.
Về sau, khi nghề dệt bông phát triển, người phụ nữ Cơ Tu tiếp tục vận dụng những kinh nghiệm trao truyền qua nhiều thế hệ để khai thác sắc tố tự nhiên. Họ ngâm ủ lá tà râm để chiết xuất sắc xanh đen đặc trưng; lấy phần gỗ thân cây vàng đắng (a rớt) hoặc cây angoan mơ rớt tạo màu vàng rực rỡ; hay luộc sợi bông với củ nâu và than ngô rang cháy để vừa tạo sắc nâu đỏ, vừa làm sợi vải đanh lại, bền màu hơn trước sương gió.
Người Cơ Tu ủ lá tà râm để chiết xuất sắc xanh đen đặc trưng, luộc sợi bông với củ nâu và than ngô rang cháy để vừa tạo sắc nâu đỏ. Ảnh: Bùi Văn Hướng
"Bên cạnh việc dùng cây tà râm để nhuộm chàm, đồng bào còn sử dụng cây 'trà lá to' - đây là một tri thức mới được ghi nhận và chưa từng bắt gặp ở các cộng đồng khác", TS Ngọc Anh chia sẻ.
Ikat là kỹ thuật tạo hoa văn bằng cách nhuộm sợi trước khi dệt. Người nghệ nhân bó và buộc chặt một số đoạn sợi rồi mới đem nhuộm. Sau khi tháo dây, trên sợi xuất hiện các đoạn màu đậm - nhạt xen kẽ. Khi những sợi này được sắp xếp đúng vị trí trên khung dệt, chúng ghép lại thành hoa văn, chẳng hạn các đường dợn sóng trên thổ cẩm Cơ Tu. Ảnh: Bùi Văn Hướng
Đó là chưa kể, những khúc gỗ, ống tre cũng được khoét rỗng chế tác thành khèn, đàn, trống, sáo.
Sự tinh tế của người dân nơi đây còn nằm ở chỗ họ phân loại cơ lý vật liệu rất chuẩn xác và tối ưu hóa vòng đời của cây. Cùng là một thân dong sậy nhưng phần non mọng nước để ăn, phần thân già dai chắc lại tước ra đan lát; bông chít non nấu canh, khi hoa nở bung thì tết thành chổi quét nhà; đùng đình lấy lõi ủ men, lá bản to lại cắt về lợp mái.
Một già làng chia sẻ về cách sử dụng những khúc gỗ, ống tre để chế tác thành khèn, đàn, trống, sáo. Ảnh: Bùi Văn Hướng
Tất cả những hiểu biết tưởng chừng nhỏ bé, tỉ mỉ nào phải tự nhiên mà có. Đó là kinh nghiệm được chắt lọc từ quá trình quan sát, sống hài hòa với thiên nhiên suốt hàng bao thế hệ. Song cây cỏ với người Cơ Tu không chỉ được nhìn qua công dụng. Tựa vào rừng như chốn nương thân, người Cơ Tu đáp đền lại tự nhiên bằng một thái độ tôn kính. Tri thức thực vật, vì thế, cũng là một phần trong cách cộng đồng xác lập quan hệ với rừng.
Bản giao ước tâm linh với Mẹ Rừng
Trong tâm tưởng của cộng đồng Cơ Tu, rừng cây giữ một vai trò trung tâm, thiêng liêng và bất khả xâm phạm. TS. Lưu Đàm Ngọc Anh giải thích: "Rừng không chỉ là nguồn sống mà còn là không gian thiêng gắn bó với cộng đồng qua nhiều thế hệ. Người Cơ Tu quan niệm rằng, rừng cây có sự gắn kết với thế giới thần linh". Người Cơ Tu đã nhân cách hóa đại ngàn thành một thực thể sống tối thượng: "Mẹ Rừng" - nơi nuôi dưỡng thể xác và che chở linh hồn cho toàn thể buôn làng.
Sự tôn kính ấy giải thích vì sao nghệ thuật điêu khắc gỗ của người Cơ Tu gắn với những không gian và nghi lễ của cộng đồng, từ nhà Gươl, cột tế lễ X'nur đến nhà mồ (ping).
Nghệ thuật điêu khắc gỗ cũng là nơi hội tụ tri thức của người Cơ Tu về thực vật rừng. Tại nhà Gươl, cấu kiện "ta cooi" nằm chót vót trên đỉnh nóc, giữ vai trò khóa chặt vì kèo và hứng chịu toàn bộ sương gió khắc nghiệt. Theo khảo sát tại 104 ngôi nhà Gươl do Bảo tàng Đà Nẵng cơ sở 2 thực hiện, người Cơ Tu ưu tiên sử dụng phần lõi của gỗ thọ hoặc gỗ dổi để làm ta cooi. Nhờ cấu trúc sợi bền chặt và chứa hợp chất kháng nấm tự nhiên, lõi gỗ dổi giúp các chi tiết chạm lộng như mỏ chim triing hay mào gà trống đứng vững hàng chục năm giữa đại ngàn.
Cột tế lễ X'nur được dưng phía trước nhà Gươl. Ảnh: Bùi Văn Hướng
Khác với sự cứng cáp của nhà Gươl, cột tế X'nur lại ưu tiên gỗ xốp, mềm như trám trắng (ca xêêu) hoặc cây gạo. Cây trám trắng khi bóc vỏ lộ ra thớ gỗ màu ngà, tượng trưng cho lòng thành kính không tì vết. Trong khi đó, cây gạo được tôn xưng là "cây linh hồn" dùng trong tế tự, khoảnh khắc cây trút lá và trổ hoa đỏ rực chính là tín hiệu sinh thái khởi đầu mùa tra hạt. Tiêu chuẩn chọn cây làm cột tế cũng rất khắt khe: thân phải mọc thẳng, không cụt ngọn và tuyệt đối không có dây leo bám quanh. Cây bị dây quấn coi như đã bị "trói buộc", mất đi tính tự do nguyên thủy nên không thể làm vật truyền dẫn lời cầu nguyện lên trời cao.
Nhưng dù là cây gỗ nào, thợ rừng Cơ Tu không bao giờ vung rìu hạ mộc tùy tiện. Năm 2024, khi tiến hành khảo sát điền dã với các nhóm nghệ nhân tại xã Lăng, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Tây Giang, thành phố Đà Nẵng), nhóm nghiên cứu tại Bảo tàng Đà Nẵng cơ sở 2 đã ghi nhận quy trình nghi lễ hạ cây làm cột tế X'nur. Trước khi hạ mộc, một mâm lễ gồm gà trống sống, rượu cần và cơm lam luôn được bày biện.
Vị già làng tự tay bôi huyết gà lên vỏ cây, rồi cất giọng khấn nguyện: "Hỡi Giàng Rừng, Giàng Cây! Hôm nay dân làng chúng con đến đây không phải để phá rừng làm hại đất trời, mà xin Giàng một thân cây gỗ đẹp nhất về dựng cột tế X'nur, dựng nhà Gươl chung cho làng. Xin linh hồn của cây đừng giận dữ, xin Giàng cho cây ngã êm... mang lại ấm no, xua đuổi con ma rừng, che chở cho mùa màng tốt tươi". Chỉ sau khi bản giao ước tâm linh ấy hoàn tất, thợ rừng mới hạ cây đưa về làng.
Theo TS. Lưu Đàm Ngọc Anh, hành động chặt phá rừng hay săn bắn vô tội vạ, với họ là một sự xâm phạm nặng nề đến người mẹ thiên nhiên. Vì thế, biết ơn và chung tay bảo vệ Mẹ Rừng luôn là câu chuyện được người Cơ Tu truyền nhau qua các thế hệ.
"Từ kinh nghiệm được tích lũy, cộng đồng đã hình thành nên những luật tục và quy tắc ứng xử với rừng, trong đó có những quy định nghiêm ngặt về khai thác lâm sản, bảo vệ những khu rừng thiêng, nhắc nhở chỉ lấy từ rừng những gì thực sự cần thiết", chị cho biết.
Người dân Cơ Tu đã tham gia cùng các nhà khoa học trong quá trình thực hiện nghiên cứu. Ảnh: Bùi Văn Hướng
Những giá trị vừa thế tục vừa linh thiêng của thế giới cây cỏ ấy đang được tái hiện tại triển lãm "Thực vật trong đời sống văn hóa Cơ Tu" do Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam và Bảo tàng Đà Nẵng cơ sở 2 phối hợp tổ chức tại Bảo tàng Đà Nẵng cơ sở 2, giới thiệu gần 40 mẫu cây và hơn 30 hiện vật thủ công.
Từ góc nhìn bảo tồn, những nỗ lực này không chỉ để trưng bày cái đẹp của quá khứ. Đánh giá về ý nghĩa của việc lưu giữ những hiện vật sinh thái này, ông Trần Văn Đức, Phó Giám đốc Bảo tàng Đà Nẵng cơ sở 2, nhìn nhận: "Khi một hiện vật được giới thiệu, chúng ta không chỉ nhìn thấy bản thân hiện vật; mà đằng sau đó còn là nguồn nguyên liệu, môi trường sinh tồn, kỹ thuật chế tác và đặc biệt là tri thức của cộng đồng đã trao truyền qua nhiều thế hệ [...] Giá trị lớn hơn của không gian này là tạo ra một nguồn tư liệu và một môi trường học tập, trải nghiệm để tiếp tục phát huy trong các hoạt động giáo dục di sản".