Thiền uyển tập anh (Những bậc anh tú trong vườn thiền) do người thời Trần biên soạn bằng tiếng Hán, ghi lại sự tích về nhiều vị thiền sư nổi tiếng, bắt đầu từ thiền sư Vô Ngôn Thông, gốc gác Quảng Châu, là người lập ra thiền phái Vô Ngôn, có ảnh hưởng tới thiền phái Trúc Lâm sau này.
Theo dịch giả Ngô Đức Thọ trong bản in tại NXB Văn học năm 1990, chuyển ngữ từ nguyên bản khắc in năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715), thì Thiền uyển tập anh là "nguồn sử liệu tổng hợp về Phật giáo Việt Nam quan trọng nhất" kể từ khi thiền sư Ấn Độ Tỳ Ni Đà Lưu Chi đến chùa Pháp Vân cho đến trước thời Trần.
Bạn có thể hỏi: nếu tôi chưa có nhiều tri kiến về Phật giáo, tôi có thể đọc cuốn sách này không? Chắc chắn là có. Thiền uyển tập anh không hẳn là một tác phẩm giảng đạo. Có lẽ tác phẩm giống với một tuyển tập thơ ca (Lê Quý Đôn đã sưu tập được 14 bài thơ từ đây để đưa vào Toàn Việt thi lục), các tích truyện dân gian, các mẩu đối thoại hỏi - đáp giữa các bậc đắc đạo và người học đạo.
Đọc Thiền uyển tập anh là đọc những sự tích kỳ ảo của Phật giáo:
Truyện thiền sư Ma Ha chữa cho người cùi - câu chuyện này chẳng phải khiến ta nhớ đến hình ảnh của Chúa Jesus chữa bệnh cùi trong Kinh Thánh và điều đặc biệt là nó cũng nhắc đến những vị thần ban phúc giáng họa mà người dân sùng bái;
Truyện thiền sư Ma Ha ăn thịt rồi nôn hết ra, bao nhiêu thức ăn lại sống lại thành các loài thú hồn nhiên đi lại;
Chùa Thầy, nơi tu hành của thiền sư Đạo Hạnh. Trong ảnh: Tranh chùa Thầy của họa sĩ Trần Duy.
Truyện thiền sư Đạo Hạnh (tên húy: Từ Lộ) nhìn phu nhân của Sùng Hiền hầu tắm, sau đó phu nhân mang thai, Từ Lộ tịch rồi đầu thai vào nhà ấy;
Truyện thiền sư Đạo Hạnh trả thù sư Đại Điên, người đã dùng pháp thuật giết cha của Đạo Hạnh rồi thả xác xuống sông Tô Lịch, còn Đại Đạo thác sinh thành Giác Hoàng – đứa trẻ dùng tà thuật để mê hoặc nhà vua nhận nó làm hoàng thái tử, khiến Đạo Hạnh lại phải ra tay trừ gian diệt ác thêm lần nữa;
Truyện thiền sư Viên Chiếu nằm mơ thấy Văn Thù Bồ Tát cầm dao mổ bụng lôi ruột gan mình ra rửa, rồi trao cho diệu dược để trị thương, từ đó mà sư chứng đạo.
Những tích truyện kỳ bí ấy cho ta cảm nhận những chiều kích sâu sắc khác của Phật giáo, khiến ta chất vấn lại những cái tưởng đã hiển nhiên. Chẳng hạn, Đức Phật dạy tứ vô lượng là "từ, bi, hỷ, xả", vậy tại sao thiền sư Đạo Hạnh báo thù mà rồi vẫn đắc đạo, khiến cho rắn rết chim muông đều phải đến chầu nghe đạo?
Ta nhất định hỏi: Thế rốt cuộc, Đức Phật thực sự giảng dạy điều gì? Nên báo thù hay không nên báo thù?
Đến đây, lại nói Thiền uyển tập anh nhiều lần nhắc lại chuyện khi Phật sắp nhập Niết Bàn, Ngài bảo Văn Thù: "Ta bốn mươi chín năm chưa từng nói một lời, sao lại bảo ta có thuyết giáo?", rồi Ngài giơ lên một cành hoa, chưa ai hiểu được ý Ngài thì Ma Ha Ca Diếp đã mỉm cười, Phật biết Ca Diếp đã lĩnh ngộ, liền truyền tâm ấn, thành tích Niêm Hoa Vi Tiếu. Câu chuyện nhấn mạnh cái thấy sâu xa về chân lý của Phật pháp không nằm ở văn tự hay lý thuyết, mà ở sự trực nhận chân lý.
Tinh thần "vượt ra ngoài lời nói" này còn xuất hiện trong cuộc hỏi - đáp giữa các thiền sư về lời viết trong kinh: "Kinh ấy là ai nói?". Câu trả lời là: nếu nói kinh ấy không phải là lời thuyết pháp của Phật thì là phỉ báng kinh; còn nói đó đúng là những lời thuyết pháp của Phật thì lại là phỉ báng Phật.
Vì vậy, đọc Thiền uyển tập anh, một mặt, ta hiểu rằng không thể bám chấp vào ngôn ngữ mà mong ngộ được tư tưởng Phật giáo. Nhưng mặt khác, vẻ đẹp của ngôn ngữ vẫn tỏa rạng trong từng trang tác phẩm.
Đặc biệt, những câu thơ được ghi lại trong tập sách đẹp khôn tả. Mỗi bậc giác ngộ ở đây đều là một thi gia. Hầu như thiền sư nào trước khi thị tịch cũng có một bài kệ, hay ta tạm gọi là một bài thơ từ thế (viết thơ từ giã cõi thế khi đối diện cái chết là một truyền thống thường thấy ở những thiền sư, tăng lữ vùng Đông Á). Như thiền sư Giác Hải có bài:
Xuân lai hoa điệp thiện tri thì
Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ
Hoa điệp bản lai giai thị huyễn
Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì.
(Bản dịch của Ngô Tất Tố:
Xuân sang hoa bướm khéo quen thì
Bướm lượn hoa cười vẫn đúng kỳ
Nên biết bướm hoa đều huyền ảo
Thây hoa mặc bướm, để lòng chi.)
Bốn mùa xuân - hạ - thu - đông, những cảnh sắc thiên nhiên như trăng - hoa - bướm, khi chiếu dưới ánh sáng thiền, đều là nguồn trí huệ vô hạn. Trí huệ nằm trong một nhành mai nở trong đêm ("Đình tiền tạc dạ nhất chi mai." - thiền sư Mãn Giác); trong trúc biếc hoa vàng, trăng trong mây trắng ("Thủy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh / Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân." - thiền sư Thiền Lão); trong những rặng trúc um tùm, gió lùa qua thành tiếng nhạc réo rắt ("Hiệp kính sum sum trúc / Phong xuy khúc tự thành." - thiền sư Viên Chiếu).
Những phong cảnh thiên nhiên tiêu dao, tao nhã như thế, cứ tưởng là đâu có khó tìm, ai muốn cũng thấy được cả. Nhưng kỳ thực chỉ "Phật với Phật mới biết".
Ai cũng tò mò muốn biết lẽ huyền vi của đạo. Trong Thiền uyển tập anh, bao nhiêu vua chúa, hoàng hậu, hoàng tử, công chúa, cả người thường đều tìm tới các bậc thiền sư để tham vấn về thế nào là Phật? Thế nào là Pháp? Thế nào là Thiền? Phật với Tổ ai hơn ai kém? Làm sao để hết phiền não? Nhưng đạo lại không thể chạm đến qua những giải thích rành rẽ hay những lý lẽ nhị nguyên phân biệt chân/ngụy, thật/giả, đúng/sai, ngộ/ngu:
Trí nhân vô ngộ đạo
Ngộ đạo tức ngu nhân
Thân cước cao ngọa khách
Hề thức ngụy kiêm chân.
- Thiền sư Tịnh Không
(Bản dịch của Ngô Đức Thọ:
"Kẻ trí không ngộ đạo
Ngộ đạo ấy ngu đần
Duỗi chân nằm nghỉ khỏe
Chân ngụy chẳng chi cần!")
Vậy mới có chuyện thiền khách hỏi sư Vô Ngôn đang lễ gì, Vô Ngôn nói lễ Phật; rồi thiền khách chỉ tượng Phật hỏi tiếp: "Đây là cái gì?" Sư không trả lời được. Đến đây sư biết thiền khách là người cao minh, liền theo người đó mà đi yết kiến những vị tổ sư để học đạo. Phật không ở trong một bức tượng, đạo cũng không nằm trong hình tướng. Không thể chấp vào đó mà đạt đạo. Hay nói như công án của thiền sư Lâm Tế: "Phùng Phật sát Phật, phùng Tổ sát Tổ" (Gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ.)
Câu hỏi "Phật là gì" lặp lại trong Thiền uyển tập anh có đến cả chục lần. Mỗi lần lại có một câu trả lời khác nhau, theo nhiều cách. Có thiền sư làm thơ, có thiền sư trích dẫn, có thiền sư dùng ẩn dụ... Cũng không có câu trả lời nào là câu trả lời tối hậu. Con người có một đặc tính thú vị là thích đi tìm câu trả lời tối hậu, câu trả lời giải thích được mọi điều, như một đáp án cho bài toán cuộc đời phức tạp. Nhưng có thể chẳng tồn tại đáp án tối hậu như thế. Dù vậy, ta vẫn sẽ không ngừng hỏi: Phật là gì? Ấy mới là con người.