[Bài viết tiết lộ một phần nội dung phim.]
Kinh phí chỉ 14 triệu nhân dân tệ (tương đương chưa đến 55 tỷ đồng), diễn viên không chuyên, lại nói tiếng địa phương Triều Châu chứ chẳng phải tiếng phổ thông, nhưng Thư tình gửi ngoại của đạo diễn Lam Hồng Xuân trở thành hiện tượng ở Trung Quốc khi doanh thu phòng vé đạt tới gần 2 tỷ nhân dân tệ (tương đương gần 8 nghìn tỷ đồng).
Bộ phim có gì mà khiến người ta truyền tai nhau đi xem? Có lẽ tất cả chỉ xoay quanh một chữ "tình".
Câu chuyện trong phim được xây dựng xoay quanh "qiaopi" (kiều phê), những bức thư của người Hoa di cư gửi về quê nhà trong khoảng thời gian từ những năm 1820 đến những năm 1980, thường kèm theo tiền. Ảnh: Clover Films
Đây là một bộ phim về tình yêu, thì nhất định rồi. Nhưng Thư tình gửi ngoại còn có tình bạn, tình thân, tình mẹ, tình cha, tình phu thê, tình hàng xóm, tình thầy trò, tình đồng hương... và một chữ tình nữa cũng quan trọng vô cùng, bao trùm rất nhiều cảm thức tình trong tác phẩm: tình nghĩa.
Tình nghĩa là một từ rất khó để dịch sát nghĩa sang ngôn ngữ phương Tây. Nó là một khái niệm rất Đông Á, nơi con người sống quần cư, phụ thuộc nhiều vào cộng đồng. Chữ "nghĩa" ( 義 ), xét theo chiết tự, gồm bộ dương (con dê) đặt trên bộ ngã (cái tôi). Loài dê sống theo bầy, trong khi chữ "ngã" là một người cầm vũ khí. Con dê đặt trên cái tôi, hiểu nôm na là đặt người khác ở trên mình.
Và Thư tình gửi ngoại làm ta yêu thích chẳng phải vì cốt truyện uyên áo, diễn xuất thần sầu, cảnh quay diễm lệ, mà là vì cảm thức của nó: các nhân vật chính trong phim luôn đặt người khác ở trên mình. Người đàn ông vì gia đình ky cóp từng đồng, người đàn bà vì chồng kiên cường nuôi con, người thiếu nữ vì bạn nuôi cả ba đứa trẻ cô chưa từng gặp, người trò vì thầy xây những ngôi trường, người này xông vào lửa cứu mạng người kia...
Nhưng Thư tình gửi ngoại đã bắt đầu câu chuyện từ một cậu thanh niên ích kỷ. Cậu nợ như chúa chổm, phải khăn gói sang Thái Lan tìm người ông ngoại Trịnh Mộc Sinh để xin tiền, dù ông đã mất liên lạc với gia đình mấy chục năm trời.
Manh mối chỉ có những chồng thư cũ ông gửi cho bà ngoại, Diệp Thục Nhu, sau khi ông trốn lính, lưu lạc tới miền Nam, từ Mã Lai đến Thái Lan để mưu sinh. Ông từng gửi rất nhiều tiền và quà về cho bà, cho đến một ngày, ông gửi về một tấm ảnh chụp cùng một người phụ nữ và bốn năm đứa trẻ, chẳng có lời giải thích nào. Bà ngoại tin ông đã có gia đình mới, liền chuyển nhà, cắt đứt liên lạc.
Nay Mộc Sinh có vẻ đã thành một người vô cùng thành đạt, đâu đâu cũng có những ngôi trường mang tên ông. Nhưng cậu thanh niên tìm mãi chẳng thấy ông đâu. Thay vì thế, cậu tìm được con trai của Tạ Nam Chi, người phụ nữ mà cậu tin là vợ hai của ông. Để rồi cậu nhận ra, trong gần 20 năm, số tiền và quà gửi đến chẳng phải từ Mộc Sinh, mà từ chính Nam Chi. Còn Mộc Sinh đã bỏ mạng dưới biển từ lâu lắm rồi.
Với một cốt truyện như thế, người xem mới đầu chắc sẽ kỳ vọng: rồi, lại là một chuyện tình tay ba giữa Mộc Sinh - Thục Nhu - Nam Chi chứ gì? Nhưng đáng tiếc, chẳng có chuyện tình tay ba nào cả. Đây chỉ là một chuyện tình, với chữ "tình" rộng lớn hơn nhiều so với tình ái.
Những con hẻm đông đúc của khu Phố Tàu ở Bangkok, Thái Lan, được tái hiện trong phim dựa trên những câu chuyện truyền miệng. Ảnh: Clover Films
Phần lớn phim lấy bối cảnh ở một ngôi làng nhỏ ở vùng Triều Sán (chủ yếu gồm ba thành phố thuộc tỉnh Quảng Đông là Triều Châu, Sán Đầu, và Yết Dương) và trong một khu phố Tàu ở Thái Lan, nơi những người Triều Châu kinh doanh buôn bán. Mộc Sinh ly hương phải đi đạp xích lô, ở trọ trong ngôi nhà cho thuê ọp ẹp của bố con Tạ Nam Chi. Ông bố thì say xỉn, cô con gái xinh đẹp quán xuyến nhà cửa, chữ nghĩa tậm tịt, chẳng muốn lấy chồng. Mối quan hệ chủ-khách vốn dĩ chỉ dựa trên tiền - còn tiền thì còn thuê nhà, hết tiền thì dọn ra - nhưng ở nơi đất khách cùng trải biết bao cơ cực và hoạn nạn, cuối cùng lại trở thành một thứ tình thân kỳ lạ.
Chẳng biết phải cắt nghĩa mối quan hệ giữa những người này ra sao. Không có gì ràng buộc họ ngoài tiếng Triều Châu và một quê hương xa lắc nào đó mà người thì không biết bao giờ mới trở lại, người chỉ mập mờ hình dung.
Buồn cười là, ba nhân vật chính trong phim thì có đến hai người mù chữ (Mộc Sinh và Thục Nhu), người thứ ba thì mù chữ hai chục năm đầu cuộc đời (Nam Chi). Nhưng cuối cùng, chính những con chữ tiếng Hoa trong chồng phong thư đã đan kết số phận họ với nhau.
Ngày ấy, muốn viết thư, người không biết chữ phải nhờ người khác, một người văn chương lai láng hơn, viết hộ. Khi nhận được thư lại nhờ người khác đọc hộ. Tình cảm của mình nhiều khi là do người khác diễn đạt và hành văn thay. Khi Thục Nhu được anh bưu tá đọc lá thư mà chồng cô nhờ bạn viết, rồi lá thư ấy lại được ông bạn đem cho lũ trẻ con luyện đọc, thì tình cảm mất đi tính riêng tư, tính cá nhân, nhưng lại trở thành một ký ức chung, một gia sản tình cảm chung.
Bao nhiêu cái tình quyện vào nhau. Ta xem phim mà như đã thấy những tấm tình này ở đâu đó rồi. Đó là bởi vì phim tuy mới nhưng tình là quen thuộc. Thứ tình được ủ trong ngàn năm thi ca Trung Hoa, thứ tình nhớ cố nhân, nhớ ân nhân, nhớ bạn bè, nhớ phu phụ, nhớ tri âm, nhớ cố hương, thứ tình xót thương cho những cảnh ngộ như mình, thứ tình nhân thế, thứ tình "Tương kiến thì nan biệt diệc nan" ("Khó gặp nhau mà cũng khó xa" - Khương Hữu Dụng và Nam Trân dịch) đã bảng lảng trong Đường thi tam bách thủ, Tống từ tam bách thủ...
Những vần thơ đích thực luôn khiến ta cảm thấy như chính mình đã trải qua tất cả những xúc cảm ấy. Thơ lúc đó không còn thuộc về người sáng tác nữa, thơ thuộc về nhân loại. Những câu thơ như "Hồng đậu sinh nam quốc / Xuân lai phát kỷ chi" không chỉ là nỗi tương tư của Vương Duy mà có thể đã thành nỗi tương tư của Mộc Sinh và của tất cả những người đàn ông xa nhà, xa vợ con, bươn chải nơi xứ người trong phim. Cũng như cái tình của Mạnh Hạo Nhiên khi viết "Xuân miên bất giác hiểu / Xứ xứ văn đề điểu" trong một sớm mùa xuân lại vang vọng trên con phố Tàu nhộn nhạo ở Thái Lan, nơi chỉ có mùa mưa và mùa khô, chẳng có mùa xuân như quê nhà của những người biệt xứ.
Chữ tình ấy, bảo giải thích cho kỹ ra thì có khi dùng tám vạn chín nghìn lời cũng không hết. Nhưng nếu bảo gói gọn lại, thì cũng có thể chỉ gói gọn trong một câu, một câu của bài Nguyệt hạ chử trà (Dưới trăng nấu trà), bài ca tiếng Triều Châu đã trở thành ca khúc chủ đề của phim: "Tôi nguyện đời này vì người mà pha một chén trà".
Bài hát vang lên khi Thục Nhu và Nam Chi lần đầu gặp nhau (mà có khi cũng là lần cuối?) sau bao nhiêu ân tình, bao nhiêu hiểu lầm, bao nhiêu im lặng. Thục Nhu đã già, chẳng còn là cô con gái phú hào xinh nhất làng; Nam Chi thì đã mất trí rồi, cầm trên tay bông hoa mộc miên, biểu tượng của quê hương Triều Châu, mà bà chẳng nhớ nổi tên.
Nguyện đời này vì người mà pha một chén trà. Cái tình ấy bảo nhỏ chẳng nhỏ, bảo lớn chẳng lớn. Nhưng sống trên đời này chỉ cần có một người nguyện vì ta mà pha một chén trà.