Tâm điểm gây tranh cãi của đề thi là câu hỏi: Làm thế nào để có thêm những "Steve Jobs Việt Nam"?
Mặc dù câu hỏi đã có phần dẫn nhắc tới "Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới" giúp thí sinh hiểu được mục đích đặt câu hỏi dựa trên tên tuổi này, nhưng việc lựa chọn một nhân vật "Steve Jobs" như ngữ liệu cơ bản có thể không phù hợp với một kỳ thi phổ thông toàn dân.
Các thí sinh thi tốt nghiệp THPT ở một điểm trường thuộc phường Bến, Nghé TP HCM. Ảnh: Thanh Tùng
Đề thi dựa trên một giả định rằng toàn bộ 1,2 triệu thí sinh có tương đối chung một cách hiểu về Steve Jobs trong mối quan hệ với phát minh công nghệ. Khác với hai nhân vật cùng được nhắc đến, mối quan hệ giữa Jobs và phát minh công nghệ đa dạng và phức tạp hơn nhiều việc trực tiếp tạo ra các phát minh - nhận ra tiềm năng của một công nghệ mới, định hướng phát triển sản phẩm, kết hợp nhiều công nghệ có sẵn thành một sản phẩm hoàn chỉnh, thay đổi cách xã hội sử dụng công nghệ...
Việc đưa một nhân vật có mối quan hệ rộng lớn và phức tạp với phát minh công nghệ như vậy sẽ rất khó cho học sinh triển khai bài viết trong 200 chữ, bởi việc minh định khái niệm ban đầu mà đề cho đã tốn không nhỏ dung lượng bài viết, số chữ còn lại có thể không đủ để triển khai sâu sắc nội dung cần thiết.
Tính công bằng xã hội của đề thi
Nhưng vấn đề thực sự nằm ở tính công bằng xã hội của đề thi. Dư luận lo ngại rằng một số học sinh ở các vùng khó khăn, hẻo lánh, ít nhiều tiếp xúc với Internet sẽ không thực sự biết Steve Jobs là ai. Lo ngại trên là có cơ sở.
Có vẻ như Steve Jobs không hề đủ tính gần gũi với đa số giới trẻ như người ra đề thi tốt nghiệp THPT 2026 môn Ngữ văn đã giả định. Trong ảnh: Steve Jobs 11/6/2007. Nguồn: Wikimedia
Một nghiên cứu thực địa [1] về giới trẻ tại các thị trấn ven biển nghèo khó ở Anh chỉ ra rằng mô hình "Đô thị trung tâm" (Metrocentric Model) tạo ra lợi thế giáo dục - văn hóa cho giới trẻ thành thị.
Theo nghiên cứu, các chính sách thường được xây dựng dựa trên mô hình lấy đô thị làm trung tâm, với các đặc điểm như sự "phong phú về văn hóa" và các biểu tượng của sự thành công kiểu đô thị - chẳng hạn Steve Jobs - được đề cao. Còn đối với thanh niên ở các khu vực bị cô lập về địa lý và nghèo khó, khát vọng của họ bị giới hạn bởi những gì thấy trước mắt.
Nghiên cứu còn đặt ra một vấn đề chính sách rằng những giá trị mang tính đô thị được sử dụng như một biểu tượng của sự ưu tú, khiến những người không chia sẻ hoặc không có điều kiện tiếp cận các giá trị này (như trẻ em ở vùng sâu vùng xa) bị dán nhãn hoặc tự dán nhãn mình là "lạc hậu" hoặc "kém cỏi", từ đó vòng lặp về bất bình đẳng được duy trì ở những mức độ sâu hơn trong tâm trí.
Về vấn đề khát vọng, nhà nhân học Arjun Appadurai đã đưa ra một góc nhìn mang tính bước ngoặt khi định nghĩa khát vọng không phải là một trạng thái tâm lý bẩm sinh, mà là một "năng lực điều hướng" [2]. Giống như một tấm bản đồ tư duy, năng lực này giúp cá nhân thiết lập mối liên hệ biện chứng giữa nhu cầu sinh kế hiện tại với các mục tiêu chiến lược trong tương lai.
Tuy nhiên, Appadurai chỉ ra rằng năng lực này không được phân bổ đồng đều mà bị phân hóa sâu sắc bởi cấu trúc bất bình đẳng xã hội. Trong khi tầng lớp tinh hoa sở hữu một "hệ sinh thái khát vọng" phong phú với đầy đủ các công cụ để thực hành, thử nghiệm và dự phóng các kịch bản tương lai thì người nghèo và trẻ em ở các vùng đứt gãy về hạ tầng số lại bị giới hạn trong một "biên độ khát vọng" có tính cục bộ, thiếu bền vững và dễ tổn thương trước các biến động.
Hệ quả là, khi hệ thống giáo dục hay các chương trình phát triển áp đặt những hình mẫu trừu tượng xa xôi của đô thị lên họ, nó chỉ tạo ra sự ngắt kết nối và thái độ thờ ơ. Vì vậy, Appadurai phản biện rằng, cốt lõi của sự phát triển bền vững là tăng cường năng lực điều hướng khát vọng cho những người yếu thế, trao cho họ công cụ và tiếng nói để tự định hình tương lai từ chính mảnh đất của mình chứ không phải vay mượn các hình tượng xa lạ.
Những dịch chuyển nhận thức lớn của giới trẻ
Bất ngờ hơn nữa là trong số những đứa trẻ cuối Gen Z, tức lứa tuổi thi tốt nghiệp THPT năm nay hoặc sẽ tốt nghiệp THPT trong vài năm tới, mà tôi tranh thủ hỏi nhanh về Steve Jobs sau buổi thi sáng 11/6, nói không biết ông là ai, có cả những em sống ở trung tâm thành phố lớn. Có vẻ như Steve Jobs không hề đủ tính gần gũi với đa số giới trẻ như người ra đề đã giả định.
Hiện tượng này phù hợp với các nghiên cứu thị trường gần đây. Trong đó nghiên cứu với sự tham gia của gần 5.500 Gen Z và Gen Alpha ở 18 nước (bao gồm Việt Nam) cho biết [4], 66% Gen Z tuyên bố rằng "không còn tồn tại một dòng chảy văn hóa đại chúng duy nhất", tức là không còn một nhân vật đại chúng nào chiếm sự chú ý tuyệt đối nữa. Giới trẻ hiện nay thể hiện sự linh hoạt này bằng cách thử nghiệm nhiều phong cách thẩm mỹ, tiểu văn hóa và cộng đồng khác nhau, tạo ra những "khung hình vô tận" để tự biểu đạt bản thân thay vì quá tập trung vào một biểu tượng lớn.
Theo một khảo sát khác với hơn 22.500 Gen Z và Gen Y tại 44 quốc gia [3], chỉ vỏn vẹn 6% Gen Z và Gen Y tuyên bố rằng đạt được một vị trí lãnh đạo là mục tiêu sự nghiệp hàng đầu của họ. Thay vì thăng tiến nhanh chóng, phần lớn người trẻ (44% Gen Z và 46% Gen Y) tìm kiếm sự tiến bộ ổn định. Các mục tiêu hàng đầu hiện nay là duy trì sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, đạt được sự độc lập về tài chính và sự ổn định trong công việc.
Hẳn người gắn liền với câu nói "Hãy khát khao, hãy dại khờ" không phải nhân vật đại diện cho lối sống này.
Các nghiên cứu trên có thể chưa khớp với giới trẻ Việt Nam, nhưng nó cũng gợi nhắc đến những dịch chuyển nhận thức lớn của giới trẻ trong việc tiếp nhận các biểu tượng công nghệ - kinh doanh - toàn cầu.
Chính bởi các biến động lớn về nhận thức như vậy, người ra đề có lẽ nên hướng tới các giải pháp trung tính hơn thay vì dồn ngữ cảnh lên một (vài) nhân vật tiêu biểu. Như nhà nghiên cứu giáo dục Lê Anh Vinh đã đề xuất câu hỏi tương đương với đề đã có như sau: "Làm thế nào để Việt Nam nuôi dưỡng những con người sáng tạo, có năng lực tạo ra sản phẩm, ý tưởng hoặc giá trị có ảnh hưởng rộng lớn."
Là đề thi tốt nghiệp toàn quốc, việc cân bằng giữa vùng miền, cập nhật các xu hướng mới của giới trẻ để đảm bảo hơi thở thời đại của phần nghị luận xã hội luôn đòi hỏi nỗ lực không ngừng từ các nhà giáo dục.
---
[1] Wenham, Aniela Michelle (2020) "Wish you were here"? Geographies of exclusion: young people, coastal towns and marginality. Journal of Youth Studies, 23/12/2019. https://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/13676261.2019.1704408?utm_source=chatgpt.com
[2]https://documents1.worldbank.org/curated/en/243991468762305188/pdf/298160018047141re0and0Public0Action.pdf
[3] The next growth generation: Winning with Gen Z and Gen Alpha. Mastercard, 26/02/2026. https://www.mastercard.com/global/en/news-and-trends/Insights/2026/next-growth-generation.html
[4] 2026 Gen Z and Millennial Survey. Deloitte. https://www.deloitte.com/content/dam/assets-shared/docs/campaigns/2026/2026-genz-millennial-survey.pdf