Trong bối cảnh những vấn đề môi trường đang ngày càng trở nên thách thức, tài chính xanh (green finance) và tín dụng xanh (green credit) là những cơ chế tài chính cần thiết để thúc đẩy phát triển bền vững.
Tài chính xanh là các hoạt động tài chính (đầu tư, huy động vốn, bảo hiểm, trái phiếu, quỹ, ngân hàng...) hướng tới mục tiêu bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, và phát triển bền vững.
Tín dụng xanh là một bộ phận của tài chính xanh, liên quan đến các khoản vay ngân hàng hoặc tín dụng dành cho các dự án/doanh nghiệp thân thiện với môi trường.
Việt Nam đã ban hành Quyết định số 403/QĐ-TTg vào 20/03/2014 về "Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020", cung cấp khung chính sách cho tăng trưởng xanh như tạo điều kiện, chính sách, thể chế để huy động vốn, hỗ trợ dự án xanh, quy hoạch xanh. Tiếp theo đó là Chỉ thị số 03/CT-NHNN, ban hành vào 24/03/2015 về "Thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng" với chủ trương thúc đẩy tín dụng xanh.
Tuy đã có nhiều chính sách ban hành, những nghiên cứu đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế bền vững ở Việt Nam vẫn còn hạn chế. Nhằm góp phần khỏa lấp khoảng trống đó, một nhóm nhà khoa học ở Trường Đại học Kinh tế TPHCM đã phối hợp với các đồng nghiệp ở Đại học Keele (Anh), Trường Đại học Kinh tế Quốc gia Azerbaijan, và Đại học Caspi (Azerbaijan) thực hiện nghiên cứu đánh giá tác động của tín dụng xanh đến ô nhiễm và phát triển kinh tế Việt Nam.
![]() |
Tín dụng xanh - một giải pháp hướng tới kinh tế bền vững. Ảnh minh hoạ: istock |
Các dữ liệu được khảo sát bao gồm tín dụng xanh (GC), phát thải CO2 (CE), chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Chi tiêu bảo vệ môi trường (ENV), chỉ số chuyển đổi số (DTI), hệ số chênh lệch thu nhập (GINI).
Các chỉ số về phát triển kinh tế bền vững (SED) được đo lường thông qua các trụ cột là môi trường (tỷ lệ che phủ rừng, nhiệt độ trung bình năm...); sản xuất bền vững (số lượng trang trại trong nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản đáp ứng tiêu chuẩn bền vững, mức tiêu thụ năng lượng tái tạo...); chất lượng cuộc sống (tỷ lệ dân số được tiếp cận với nước sạch, thu nhập bình quân...); công bằng xã hội (tỷ lệ thất nghiệp, chênh lệch thu nhập giữa nhóm cao nhất và thấp nhất...). Dữ liệu được thu thập từ các công bố của Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, niên giám thống kê của các tỉnh.
Kết quả cho thấy, đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai khu vực có mức phát triển kinh tế bền vững cao nhất giai đoạn 2015–2022 nhờ vị trí thuận lợi, hạ tầng tốt và đầu tư vào các sáng kiến xanh. Tây Bắc và Đông bắc là những vùng có mức phát triển kinh tế bền vững thấp nhất do hạ tầng giao thông kém, phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, thiếu ngành công nghệ cao và chất lượng lao động còn hạn chế.
Tín dụng xanh có sự tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây. Từ mức 2,95 tỷ USD năm 2015 và 3,53 tỷ USD năm 2016 đã tăng lên 13,23 tỷ USD năm 2019 và 25,87 tỷ USD vào năm 2022. Tín dụng xanh được phân bổ nhiều nhất vào ngành năng lượng tái tạo (47%), nông nghiệp bền vững (32%), quản lý tài nguyên nước (11%), lâm nghiệp bền vững (5%) và một số ngành khác.
Phát thải CO2 trong giai đoạn nghiên cứu trung bình là 1.932 kgCO₂/1.000 USD GRDP (nghĩa là khi tạo ra 1.000 USD giá trị kinh tế thì lượng CO2 phát thải tương ứng là 1.932 kg). Phát thải có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng. Khu vực Đông Nam Bộ và ĐBSH có mức phát thải CO₂ trung bình 190 kgCO₂/1.000 USD GRDP, trong khi Tây Bắc và Tây Nguyên có mức trung bình cao hơn là 6.160 kgCO₂/1000 USD GRDP. Tuy vậy, về tổng lượng phát thải CO2, khu vực Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng vẫn là những khu vực có phát thải lớn nhất trong cả nước.
Nghiên cứu chỉ ra rằng, tín dụng xanh, chỉ số phát triển con người, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, chi tiêu bảo vệ môi trường, chỉ số chuyển đổi số là những yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến phát triển kinh tế bền vững. Cụ thể, khi tín dụng xanh tăng 1% thì kinh tế bền vững (SED) tăng 0,25% đến 1,65%. Trong khi đó, mức tăng 1% ở chỉ số phát triển con người giúp SED tăng 0,47-1,75%. Những thay đổi tương tự ở chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, chi tiêu bảo vệ môi trường, chỉ số chuyển đổi số giúp cải thiện SED lần lượt là 0,0021%- 0,019%; 0,008%- 0,017% và 0,05%- 0,12%.
Ngược lại, phát thải CO2 tăng 1% thì làm cho SED giảm từ 0,88% đến 1,3%. Bất bình đẳng thu nhập tăng 1% sẽ làm SED giảm 0,002% đến 0,007%.
Tác động tích cực của tín dụng xanh đến SED chủ yếu thông qua giảm phát thải CO2, tác động này chiếm gần 27% trong tổng tác động. Ngoài ra, tín dụng xanh còn có thể tác động đến SED thông qua đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, nâng cao mức sống, tạo ra công bằng xã hội... Do vậy, nhóm nghiên cứu lưu ý rằng, muốn phát triển kinh tế bền vững, chỉ tăng tín dụng xanh là chưa đủ mà cần đảm bảo hiệu quả sử dụng tín dụng thông qua các yếu tố sản xuất bền vững như đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng cuộc sống như trên.
Nguồn:
https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0275531924003635
Diễm Quỳnh
