Họ xuất hiện vào cùng một thời điểm. Về mặt địa lý, họ không thể cách xa nhau hơn. Nhưng những ngã rẽ của lịch sử đã khiến hai con người ấy trở thành một cặp gương soi chiếu lẫn nhau, "như trăng và nguyệt", như cách học giả John C. Schafer ví von, dựa trên chính ca từ của Trịnh.
Những mốc thời gian trong đời họ có sự đan xen thật thú vị. Khi Bob Dylan là thủ lĩnh tinh thần của cuộc diễu hành phản chiến ở Washington vào năm 1963, trong đó ông cùng Joan Baez hát "Only a Pawn in Their Game", thì Trịnh Công Sơn còn đang học ở trường Sư phạm Quy Nhơn, say mê triết học hiện sinh và viết ra nhiều bản tình ca để đời cho những nàng thơ trong đời mình. Đến năm 1967, khi Trịnh Công Sơn xuất bản tập nhạc "Ca khúc Da Vàng" với tinh thần phản chiến và tham gia vào đời sống sôi động để "hát cho đồng bào tôi nghe", thì Bob Dylan lui về tầng hầm nhà mình sau một vụ tai nạn xe cộ, tạm rời xa hình ảnh một thủ lĩnh thanh niên đấu tranh cho tự do, hòa bình và lẽ phải. Họ dường như đã tuần tự ra vào sân khấu lịch sử.
Để gió cuốn đi là một nghiên cứu đồ sộ dài 800 trang của C. Schafer về âm nhạc của Trịnh Công Sơn và Bob Dylan. Ảnh: Omega+
Dù ai là người đầu tiên gọi Trịnh Công Sơn là "Bob Dylan của Việt Nam", thì biệt danh ấy vẫn được tái sử dụng, trở thành một cách giải thích ngắn gọn nhất về Trịnh cho người nước ngoài chưa am hiểu về nhạc Việt. Trong Để gió cuốn đi, một nghiên cứu đồ sộ dài 800 trang, (cuốn Trịnh Công Sơn, Bob Dylan - Như trăng và nguyệt cùng chủ đề của tác giả chỉ dài chưa tới 300 trang), học giả John C. Schafer đã làm một cuộc khảo sát tường tận về hai biểu tượng nghệ thuật ấy, để xem có thực sự họ giống nhau tới thế không. Và nếu giống, là giống ở đâu. Nếu khác, là khác ở đâu. Đó là một công trình đáng khâm phục, hẳn phải đến từ một tình yêu âm nhạc vô song, bởi chưa kể những nguồn tư liệu ngồn ngộn khác thì chỉ riêng gia tài tác phẩm của hai tác giả tổng cộng đã lên đến cả ngàn ca khúc.
Hai persona của một thời đại
Thoạt trông, ta thấy so sánh Trịnh và Dylan là điều thật hợp lẽ tự nhiên! Họ đều là những bậc thi sĩ kỳ tài của âm nhạc. Họ đều lấy cảm hứng sâu rộng từ tôn giáo, đều ít nhiều chịu ảnh hưởng từ chất liệu văn chương - âm nhạc bản địa. Họ đều chống chiến tranh. Họ đều từng là đại diện cho những tâm hồn trẻ tuổi muốn gây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Bob Dylan có người diễn xướng là Joan Baez, thì Trịnh Công Sơn có người diễn giải là Khánh Ly. Họ đều đạt đến tầm vóc huyền thoại, âm nhạc đã thành bất tử.
Nhưng họ cũng không thể khác nhau hơn. Một người viết Để gió cuốn đi, một người viết Blowin’ in the wind, gặp gỡ nhau sâu sắc như thế, nhưng cuộc đời, tính cách, triết lý, thái độ với tôn giáo, cách tiếp cận với đức tin, cách yêu, cách sống của Trịnh và Dylan thực sự như hai persona.
Điểm dễ thấy nhất có lẽ ở chỗ, Trịnh Công Sơn viết nhiều về lòng từ bi, sự thứ tha, sự loại bỏ những oán hận sân si để gột rửa tâm hồn - một thực hành rất Phật giáo. Còn âm nhạc của Bob Dylan không thiếu những cơn giận dữ, sự trừng phạt - một dấu vết của hình ảnh Đức Giê-hô-va trong Kinh Thánh, vốn thường được mô tả qua những cơn thịnh nộ. Kết quả là Trịnh Công Sơn yêu ai cũng yêu rất bao dung. Còn Bob Dylan yêu vừa mãnh liệt mà cũng có thể trở nên rất chua chát, cay độc.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Hành trình trưởng thành qua việc nuôi dưỡng đức tin cũng khác nhau giữa hai người. Trịnh Công Sơn là một Phật tử đã quy y - Phật giáo đã len lỏi vào đời sống của ông từ những năm tháng ấu thơ, người ta có thể đọc ra nhiều biểu tượng và chủ đề Phật giáo trong các ca khúc của ông, như sự vô thường, sự nhân từ, sự bất nhị, tính không, nhưng nói như thiền sư Thích Nhất Hạnh thì Trịnh là "kiến đạo nhưng chưa chứng đạo". Phật giáo trong diễn giải của Trịnh tương đối phi chính thống.
Còn Bob Dylan sinh ra là một người Do Thái - ông có mối quan hệ sâu sắc với nguồn gốc Do Thái của mình, đến những năm 70, nhờ một khải ngộ trong thời kỳ khủng hoảng, ông cải đạo Kito. Mối quan tâm tới Thượng Đế của ông, nếu như ở thời kỳ đầu là một phong cách văn học, bởi nói cho cùng việc sử dụng ngôn ngữ Kinh Thánh là chuyện thường ngày với các nghệ sĩ phương Tây, nhưng đến thời kỳ sau đã tái sinh thành một lòng tin thuần khiết, bộc bạch qua nhiều sáng tác có tính rao giảng và truyền đạo.
Schafer cũng chỉ ra một chi tiết hay: Trịnh Công Sơn đâu chỉ hát về đạo Phật. Âm nhạc của ông cũng có những dấu chỉ đến Thiên Chúa giáo, có những "ngày Chủ nhật buồn", có "giáo đường", có "trên vùng ăn năn", có "thân thôi lưu đày chốn đây", có "năm ngón tay em thiên thần" - những cụm từ gợi đến Kito giáo. Đạo của Trịnh là một sự giao hòa giữa rất nhiều triết lý, có Phật giáo, có Thiên Chúa, thậm chí cũng thấp thoáng cả đạo Lão, đạo Trang. Để gió cuốn đi cũng được mở đầu bằng hai câu hát với cặp đăng đối "thánh giá - bồ đề" của Trịnh rằng:
"Đợi chờ yêu thương trên cây thánh giá
Đợi xóa sân si dưới bóng bồ đề"
Yêu thương hay sân si, thánh giá hay bồ đề, mọi sự phân biệt đều hợp nhất trong cặp đăng đối ấy.
Một cuộc du hành xuyên văn hóa
Không có sáng tạo nào tới từ hư vô. Những người vĩ đại luôn đứng trên vai những người khổng lồ. Xin mượn cấu trúc tứ thơ của Bob Dylan trong Blowin’ the wind để đặt câu hỏi: Cần bao nhiêu tư tưởng, bao nhiêu tác phẩm đi trước để tạo nên những tâm hồn như Trịnh và Dylan? Việc khảo sát Trịnh Công Sơn và Bob Dylan vì thế dẫn ta đi một vòng qua một lịch sử nghệ thuật phong phú từ Đông sang Tây.
Ca sĩ - nhạc sĩ Bob Dylan.
Schafer dành nhiều thời gian dẫn ta khám phá từ văn học Anh - Mỹ của những Byron, Poe, Eliot, Longfellow, Emerson đến những nhà hiện sinh chủ nghĩa như Heiddgger, Sartre, Camus; từ Bát Nhã Tâm Kinh, Kinh Kim Cương đến Ngũ Thư, Sách Khải Huyền; từ Truyện Kiều, ca dao dân ca Việt đến phong trào Beat ở Mỹ, từ những tư tưởng của Thích Nhất Hạnh về Đạo Bụt đến những phong trào tôn giáo liên quan tới Đấng Cứu Thế...
Những ngã rẽ tri thức và nghệ thuật không ngừng đan bện, cắt ngang qua nhau, tạo thành vô vàn giao lộ. Những nghệ sĩ hậu thế bước đi trên những con đường ấy, những ngõ ngách ấy, thì đương nhiên rồi, họ kiểu gì cũng sẽ gặp gỡ nhau, không phải ở chỗ này thì sẽ ở chỗ kia.
Có lẽ chính vì lẽ ấy mà công trình của Schafer làm ta cảm động: nó cho thấy nghệ thuật luôn mang đến những con đường "trung đạo". Trong thế giới ấy, không có gì bị cô lập, không có gì là một ốc đảo riêng. Những cư dân của thế giới này lúc tách biệt, khi hợp nhất. Họ cùng cầu một thứ đạo nghệ thuật rất sâu thẳm, rất mênh mông.
Cá nhân tôi khi đọc về hai con người vĩ đại kia, chợt nghĩ về một truyện ngắn nổi tiếng của Borges trong tập Labyrinths, trong đó có hai nhà thần học luôn đối đầu nhau về tư tưởng, cuối cùng khi lên thiên đàng, họ nhận ra rằng trong mắt một trí tuệ siêu việt lớn lao, họ chỉ là một người duy nhất.