Bài viết Huyền thoại Rồng - Tiên liên quan gì tới mô típ chim Lạc của tác giả Từ Nho viện dẫn cuốn sách Khai nguyên rồng tiên của Nguyễn Mạnh Tiến, đồng thời đưa ra luận điểm đáng chú ý: các cộng đồng Việt, Mường, Thái đều lưu giữ những huyền thoại về chim tổ tiên, về trứng thần, về sự kết hợp giữa chim và thủy tộc. Từ đó, tác giả đặt câu hỏi liệu chim Lạc có thực sự chỉ là một kiến tạo muộn của thế kỷ XX hay không? Câu hỏi phản vấn này đồng thời ngầm trả lời rằng không phải.
Hoa văn rồng trên sản phẩm thổ cẩm của người Mường. Nguồn: FB Hoa Văn Đại Việt
Tôi cho rằng ở đây có một sự nhầm lẫn giữa hai vấn đề khác biệt: một bên là sự tồn tại của các mô típ chim tổ tiên trong ký ức văn hóa của nhiều cộng đồng, một bên là việc xây dựng chim Lạc thành biểu tượng nguồn cội của dân tộc Việt Nam hiện đại. Hai việc này không đồng nhất với nhau.
Việc người Mường, người Thái có những huyền thoại về chim tổ không tự động chứng minh rằng người Kinh trong hàng ngàn năm lịch sử cũng đã và luôn xem chim là biểu tượng thiêng liêng của cộng đồng mình.
Người Kinh không duy trì truyền thống sử thi truyền khẩu như nhiều cộng đồng cư dân miền núi. Những câu chuyện lịch sử còn lại chủ yếu lưu truyền trong thư tịch, văn bia, gia phả, sử sách. Và trong toàn bộ kho tàng tư liệu thành văn ấy, chim Lạc chưa bao giờ hiện diện.
Nếu quả thực chim thiêng là một ký ức tập thể mạnh mẽ và liên tục của người Việt, tại sao không có nghi lễ thờ chim thần, không có những áng văn chương đề cập tới chim tổ, càng không có hệ thống tư tưởng chính trị xoay quanh chim Lạc?
Sự vắng mặt ấy kéo dài hơn một thiên niên kỷ, mãi tới giữa thế kỷ XX, chim Lạc cùng văn hoá Đông Sơn (tên ngôi làng ở Thanh Hóa, nơi phát hiện di vật khảo cổ năm 1934) mới bắt đầu được đưa vào vị trí trung tâm của câu chuyện cội nguồn dân tộc.
Điều này không phải ngẫu nhiên. Nó được sản sinh trong chính thời kỳ hình thành một hệ thống giáo dục mới, một nhận thức lịch sử mới và một nhu cầu xây dựng những biểu tượng mới cho quốc gia hiện đại. Trong bối cảnh ấy, Đông Sơn được lựa chọn như một điểm khởi đầu lý tưởng. Đó là một nền văn hóa đủ cổ xưa, một quá khứ đủ xa, chưa tiếp nhận sâu đậm ảnh hưởng của văn hoá Hán, một quá khứ có thể trở thành nền tảng cho câu chuyện về bản sắc dân tộc độc lập.
Trên thực tế, lịch sử dân tộc nào cũng là lịch sử của những cuộc lựa chọn và kiến tạo. Mỗi chính thể đều xây dựng những câu chuyện, biểu tượng, niềm tin mới để tạo nên sự gắn kết cộng đồng, cũng như tính chính danh cho chính thể đó.
Ngày nay, chúng ta quen thuộc với vua Hùng, với trống đồng Đông Sơn, với chim Lạc, với ý niệm một tổ tiên chung của toàn dân tộc. Nhưng điều đó không đồng nghĩa rằng, những niềm tin ấy, câu chuyện ấy đã luôn tồn tại như vậy trong suốt hàng ngàn năm lịch sử.
Như bài viết trước tôi đã trình bày, ngày giỗ vua Hùng từng là một quyết định hành chính của triều Nguyễn vào năm 1917. Khái niệm văn hóa Đông Sơn chỉ xuất hiện từ năm 1934. Tên gọi chim Lạc cũng là sản phẩm của học giả Đào Duy Anh vào năm 1955.
Trước thế kỷ XX, thế giới tư tưởng của khu vực Đông Á chỉ có những khái niệm phân biệt giữa văn minh và man mọi (Hoa và Di), giữa người Nam, người Bắc, người Đông, người Tây. Câu chuyện nguồn gốc dân tộc phải từ đầu thế kỷ XX, sau khi chịu ảnh hưởng tư trào phương Tây, mới nhiều lần được tái cấu trúc và tái diễn giải trong những bối cảnh chính trị khác biệt.
Nếu như Lê Văn Hưu, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi v.v. đều coi nước Việt lập quốc từ thời Triệu Đà (không phải từ thời Hùng vương) [1]; Phan Bội Châu (1909), Hoàng Cao Khải (1914), Dương Bá Trạc (1918), Phạm Quỳnh (1931) [2]... đều biện giải và xây dựng niềm tin "dân tộc Nam ta có nguồn gốc Hán tộc" thì sau khi thành lập, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với Đề án cải cách giáo dục năm 1950 tại miền Bắc, đã đặt mục tiêu "xóa bỏ triệt để nền giáo dục cũ cùng với những tàn dư của nó về nội dung, phương pháp giáo dục và xây dựng một cơ sở tư tưởng mới, nhận thức mới về nền giáo dục dân chủ nhân dân." Đây chính là thời điểm các thế hệ trí thức không ngừng xây dựng những câu chuyện mới cho thời đại mới, chính thể mới. Và theo đó, văn hóa Đông Sơn, biểu tượng chim Lạc, tín ngưỡng Hùng vương không ngừng được kiến tạo, gắn kết và phổ biến trên diện rộng.
Từ trái sang: Chim và cá sấu trên trống đồng Phú Xuyên và rống đồng Hoà Bình.
Một chi tiết đáng chú ý, trên trống đồng Đông Sơn không chỉ có sự lặp lại của mô típ chim mà còn có mô típ cá sấu, hoặc theo cách gọi của một số nhà nghiên cứu hiện đại là "rồng", "rồng cá sấu". Tuy nhiên, trong quá trình kiến tạo câu chuyện nguồn gốc dân tộc ở thế kỷ XX, hình tượng chim được Đào Duy Anh lựa chọn, đặt tên là "chim Lạc" và dần trở thành biểu tượng quen thuộc trong giáo dục cũng như đời sống xã hội mới.
Trong khi đó, mô típ cá sấu hay "rồng cá sấu" không được phổ biến rộng rãi và dần bị lãng quên. Nếu thực sự tồn tại một ký ức tập thể liên tục được lưu truyền từ thời Đông Sơn tới nay, thì rất khó lý giải vì sao người Việt hiện đại chỉ nhớ tới "chim Lạc" mà không nhớ tới những mô típ khác xuất hiện với tần suất và vị trí quan trọng không kém trên cùng hệ thống hiện vật. Điều đó cho thấy thứ đang được lưu truyền không phải ký ức nguyên trạng từ quá khứ, mà là kết quả của một quá trình lựa chọn, diễn giải và phổ biến trong nền giáo dục hiện đại.
Hình tượng tượng cá sấu trên qua đồng, mũi tên đồng, thạp đồng Đông Sơn. Ảnh ghép các hiện vật của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Hà Nội, dựa trên các nguồn tư liệu.
Có lẽ vì vậy, điều cần phân biệt ở đây không phải là có hay không những huyền thoại về chim tổ trong ký ức văn hóa của các cộng đồng Việt, Mường, Thái. Điều đó hoàn toàn có thể tồn tại, và có lẽ đã tồn tại từ rất lâu. Nhưng từ những huyền thoại ấy tới hình tượng chim Lạc trên trống đồng Đông Sơn, rồi từ hình tượng chim trên trống đồng tới biểu tượng nguồn cội thiêng liêng của dân tộc Việt Nam hiện đại, là những bước chuyển hóa lịch sử hoàn toàn khác biệt.
Nói cách khác, bài viết của tác giả Từ Nho và cuốn sách của Nguyễn Mạnh Tiến, nếu đúng, cũng mới chỉ giúp chúng ta hiểu thêm về tầng sâu của những mô típ huyền thoại liên quan tới loài chim trong văn hóa khu vực. Nhưng điều đó không chứng minh được chim Lạc đã luôn là biểu tượng thiêng liêng của người Việt từ thời cổ đại cho tới ngày nay. Giữa hai điều ấy là hàng nghìn năm lịch sử, là vô số lần đứt gãy, lựa chọn, diễn giải và tái kiến tạo.
Chính vì vậy, thay vì xem chim Lạc như một biểu tượng bất biến tồn tại ngoài lịch sử, có lẽ nên nhìn nó như sản phẩm của nhiều lớp lịch sử chồng xếp lên nhau. Có lớp ký ức huyền thoại rất xa xưa. Có lớp diễn giải của các học giả giữa thế kỷ trước. Có lớp nhu cầu xây dựng căn tính dân tộc của một quốc gia hiện đại. Và có cả những cách hiểu mới tiếp tục được hình thành trong thế kỷ XXI.
Hiểu như vậy, giúp chúng ta thấy rõ hơn bản chất của biểu tượng văn hóa: không phải những vật thể bất động nằm ngoài thời gian, mà là những thực thể luôn được mỗi thời đại tiếp tục gán cho những ý nghĩa mới.
---
Chú thích:
[1] Đại Việt sử ký, bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam, ghi chép lại những sự việc quan trọng trong gần 15 thế kỷ, từ Triệu Vũ đế Triệu Đà cho tới hết triều đại nhà Lý. Các phát biểu của Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi và nhiều trí thức trung đại khác cũng cho thấy trong nhận thức lịch sử thời Trần và một phần thời Lê sơ, Triệu Đà vẫn giữ vị trí đặc biệt như người mở nước. Đại Việt sử ký toàn thư kể lại câu chuyện khi Hưng Đạo đại vương ngọa bệnh, vua tới thăm phủ đệ hỏi về kế sách chống giặc phương Bắc, trong trường hợp không may ông qua đời. Hưng Đạo vương đã trả lời rành rọt kế sách chống địch. Trong đó mở đầu bằng nhận định: "Xưa Triệu Vũ [tức Triệu Vũ đế Triệu Đà] dựng nước, vua Hán dấy quân v.v. Đến đời Đinh Lê v.v." cho thấy nhận thức của ông về cội nguồn lịch sử nước Việt. Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo cũng viết: Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần gây dựng nên nước ta, cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên làm hoàng đế một phương.
Đến thời Ngô Sĩ Liên, trong bối cảnh chính trị và văn hóa mới, việc tham khảo thêm các nguồn truyền thuyết như Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh tập... đã dẫn tới sự hình thành một cấu trúc lịch sử mới, trong đó kỷ Hồng Bàng được Ngô Sĩ Liên bổ sung năm 1479, đưa vào phần Ngoại kỷ như khởi nguyên của lịch sử dân tộc, nhưng phần nhiều mang tính chất huyền sử. Việc xuất hiện của kỷ Hồng Bàng trong Đại Việt sử ký toàn thư phản ánh một quá trình tái cấu trúc nhận thức về nguồn gốc dân tộc diễn ra dưới thời Lê sơ. Đó cũng chính là ví dụ minh họa cho việc các cộng đồng và các chính thể luôn liên tục kiến tạo, lựa chọn và diễn giải lại lịch sử khởi nguyên của cộng đồng mình.
[2] Phan Bội Châu viết trong Việt Nam quốc sử khảo (1909): "Gộp những điều chứng trên kia lại mà xét thì giống người nước ta ngày nay có thể đoán chắc là giống người Hán. Giống người mọi rợ khắc trán, giao chỉ kia nhất biến đã thành giống người văn minh xinh đẹp áo mũ chững chàng."
Hoàng Cao Khải viết trong Việt sử yếu (1914): "Từ Hán Võ đế tới Hán Hiến đế, trong khoảng ba trăm năm, hoặc đặt quan để cai trị, hoặc đặt trường học để khai hóa, đến nay mà giống Giao Chỉ cũ đã hòa tan hết cả, mà thành riêng một dân tộc Việt Nam. Hán Hiến đế đổi Giao Chỉ thành Giao Châu, dùng tên mới thay tên cũ thì dân tộc ngày một khai hóa đã có thể biết được. Từ đó mà xem, dân tộc Nam ta tức là Hán tộc không thể nghi ngờ gì nữa!"
Dương Bá Trạc viết bài trên tạp chí Nam Phong (số 50, năm 1918) viết: "Từ thời thuộc Hán, Hán Võ đế mở ra 9 quận, đặt chức Thứ sử, Thái thú, người Hán tới phương Nam ngày một đông. Mà tộc Giao Chỉ cũ đã hòa tan hết cả, mà thành ra giống người Việt Nam ngày nay. Thử xem Lý Bí, Hồ Quý Ly đều là hào kiệt nước ta mà ông tổ bảy đời của Lý Bí là người phương Bắc, cuối thời Tây Hán lánh xuống đất Nam. Ông tổ bốn đời của Quý Ly là Hồ Hưng Dật, người Chiết Giang, thời Ngũ đại tới quy thuận. Vậy thì nhân chủng nước ta đồng hóa thành Hán tộc không thể nghi ngờ gì nữa. Than ôi! Đường đường Hán tộc, giết Si Vưu, xua Tam Miêu, đuổi Kinh Man, dần dần phát đạt, ban đầu ở Hoàng Hà, kế đó là sông Dương Tử, kế nữa là Tây Giang rồi cho đến đất này. Có tính chất văn minh, có năng lực cạnh tranh. Có thể thu lấy Chiêm Thành, chiếm cứ Chân Lạp, bình định các giống man mọi, chinh phục hết thảy chủng tộc cũ mà nghiễm nhiên thành ông chủ của đất nước này!"
Phạm Quỳnh đăng bài Du lịch xứ Lào trên tạp chí Nam Phong (số 158, năm 1931) có đoạn viết: "Giống Giao Chỉ ngoài nghìn năm đúc trong cái khuôn lễ nhạc của Trung Hoa, càng ngày càng sinh sôi nảy nở, khu khu trong triền sông Hồng Hà lấy làm chật hẹp, thế tất phải bành trướng về phía Nam, bèn vượt Đèo Ngang mà tràn xuống Chiêm Thành. Thế giới China quyết chiến với thế giới Ấn Độ trong mấy thế kỷ, rồi đến năm 1471 thì Chiêm Thành bị diệt, thế là China thắng mà Ấn Độ lui vậy.