Vua Gia Long bước vào bài toán lịch sử đó không phải từ vị thế của một người tất yếu chiến thắng, tất yếu nắm trong tay quyền lực nhất thống giang sơn, tất yếu được chọn, mà từ một tình thế gần như tuyệt vọng.
"Nếu các bạn đánh cược năm 1788 ai sẽ làm chủ Việt Nam, các bạn không bao giờ đặt cho Gia Long cả". Trong tọa đàm do Tia Sáng tổ chức, TS Vũ Đức Liêm, Phó trưởng khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội, phân tích tình cảnh hiểm nghèo của cậu thanh niên Nguyễn Phúc Ánh lúc đó: Toàn bộ những người đàn ông tinh hoa giữ vai trò thừa kế, nối dõi quyền lực dòng họ đã bị giết, bản thân ông là một thiếu niên phải lao đao xoay sở giữa các lực lượng đan xen gồm người Hoa, người Khmer, các phe phái trung thành với Tây Sơn hay chúa Nguyễn, và cả những thế lực muốn lợi dụng ông.
Ở một góc nhìn hiện đại, TS. Vũ Đức Liêm gọi đây là một "mẫu hình khởi nghiệp". Nguyễn Ánh không ngừng tìm kiếm các đối tác, chấp nhận rủi ro, dám đầu tư "đóng thuyền ở Nam Bộ, chở lúa gạo sang Manila, bán cả thuyền và bán cả lúa sau đó mang vũ khí về. Ông luôn tìm hiểu "bên ngoài đang vận hành cái gì, thị trường thế giới đang làm sao, công nghệ và kỹ thuật như thế nào", TS. Vũ Đức Liêm nhận xét.
Thậm chí Gia Long mua các tàu của phương Tây về, tháo gỡ hết tất cả ra cho thợ làm lại hết, sao chép để tạo ra các sản phẩm như tàu ở phương Tây. Ông là người dùng các kỹ sư của Pháp, tận dụng kỹ thuật và các bản đồ hàng hải của họ. Đó là lý do vì sao thủy quân của Nguyễn Ánh ngày càng phát triển.
TS. Vũ Đức Liêm. Ảnh: Mỹ Hạnh
Vua Gia Long với thách thức ổn định một trật tự mong manh
Dự án "khởi nghiệp" của Nguyễn Ánh là một dự án quyền lực trong điều kiện khắc nghiệt nhất vì không có nguồn lực ổn định, không có tính chính danh rõ ràng, và không có một cấu trúc nhà nước sẵn có để kế thừa.
Vua Gia Long từ sau cánh gà chính trị bước lên trung tâm quyền lực, làm "chủ hộ" một cương vực rộng lớn chưa từng có trong lịch sử quốc gia. Nhưng thành công quân sự không đồng nghĩa với việc giải quyết được bài toán chính trị vì ông "không có tính chính danh". Nguyễn Ánh đến từ một vùng đất mà tổ tiên của ông trong mắt của phần còn lại của Việt Nam là một phiên thần nổi loạn "kém văn minh", như cách mô tả của nhà kỹ trị Lê Quý Đôn.
Rất mau chóng, đây trở thành vấn đề trung tâm ngay sau khi ông giành được quyền lực. "Ông ấy cực kỳ băn khoăn không biết tính chính danh của mình đến từ đâu", TS Vũ Đức Liêm nói. Chính vì thế, khác với hình dung quen thuộc rằng năm 1802 là một sự kiện ông lên ngôi, thực tế đây là mốc đổi niên hiệu Gia Long, còn lên ngôi vương vào năm 1788 nhưng phải đến năm 1806 ông mới chính thức xưng đế, sau một giai đoạn dài do dự.
Khoảng thời gian đó là một cuộc vật lộn về diễn ngôn, một nỗ lực tập thể nhằm hợp thức hóa quyền lực. "Tất cả quần thần của nhà Nguyễn trong vòng 4-5 năm này chỉ loay hoay giải thích tại sao mình ở đây cầm quyền và kể câu chuyện hợp lý để thuyết phục toàn bộ dân chúng", TS Vũ Đức Liêm cho biết. Trong một thế giới chính trị của các triều đại phong kiến, nơi quyền lực phải được biện minh bằng thiên mệnh, bằng "chính thống" hay "trung hưng", việc thiếu một câu chuyện hợp lý về nguồn gốc quyền lực có thể dẫn đến bất ổn, khó thu phục lòng người.
Nhà nước của Gia Long không kế thừa một trật tự cũ đã được chấp nhận rộng rãi, mà phải tạo ra một trật tự mới. Trong khi đó, ông vẫn phải thuyết phục các lực lượng cũ của cấu trúc quyền lực cũ đang ủng hộ nhà Lê vẫn còn ảnh hưởng, rằng nhà nước mới thực sự chính danh.
Đó là một trạng thái mong manh, và nó giải thích vì sao Gia Long dựa vào một mô hình quen thuộc - quyền lực quân sự để nhanh chóng ổn định tình hình. Ông lựa chọn một mô hình quản lý đất nước mang tính quân sự, phân quyền cho các tổng trấn với quyền lực rất lớn. Và trên thực tế nó là ba vùng chính trị, ba vùng hành chính khác nhau. Ông cử các công thần của mình cai trị ở các nơi.
PGS.TS Trần Trọng Dương. Ảnh: Mỹ Hạnh
Đây cũng là thời điểm quốc gia có diện tích lớn chưa từng có. Vua Gia Long giữ một tấm "sổ đỏ" lớn nhất từ trước đến nay, một cương vực rộng lớn hình chữ S với "những sự khác biệt vùng miền, sắc tộc và các thành tố xã hội" buộc người cầm quyền phải đối mặt với một bài toán hoàn toàn mới, theo phân tích của PGS.TS Trần Trọng Dương, Khoa Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam, Trường Ngoại ngữ - Du lịch, Đại học Công nghiệp Hà Nội.
Việc vận hành đất nước trong một thời đại mới, một cương vực mới đưa đến hệ quả là cần có dữ liệu mới chi tiết, phục vụ cho tư tưởng đại nhất thống, bằng cách viết "Đại Nam nhất thống chí" này, "Hoàng Việt nhất thống chí", PGS.TS Trần Trọng Dương cho biết.
Lần đầu tiên nhà nước "huy động cả một hệ thống quân sự để viết một lịch sử giao thông, lịch sử bưu chính, thuyền bè đi theo tuyến nào, đường bộ, đường sông, đường duyên hải. Cửa sông rộng bao nhiêu, dài bao nhiêu, đo. Tất cả đều đo hết, đo đến từng mét, từng trượng". Trong lịch sử Việt Nam trước đó chưa từng có được một bộ địa chí giao thông, đất đai, dân cư đầy đủ như bộ Hoàng Việt nhất thống chí.
Nhưng chính chính quyền quân sự, với vai trò rất lớn của các công thần khai quốc cũng đặt ra giới hạn cho giai đoạn tiếp theo.
"Thủ pháp" hành chính của hệ thống Minh Mệnh
Nếu Gia Long là người "khởi nghiệp", thì Minh Mệnh là người thừa kế cơ nghiệp ấy nhưng phải thiết kế lại toàn bộ hệ thống. Sinh ra và trưởng thành trong một bối cảnh ổn định hơn, ông có cơ hội được dùi mài kinh sử để tham khảo các mô hình trị quốc. Ông không phải đối mặt với bài toán sinh tồn, nhưng phải đối diện với bài toán xây dựng nhà nước khi quyền lực quân sự lấn át cả hoạt động hành chính. Điều "ám ảnh của Minh Mệnh là tham nhũng và bè phái".
Chính vì thế khi lên ngôi vua, ông tạo ra "cú sốc Minh Mệnh", gây ra những xung đột lớn trong hệ thống chính trị, "thay máu" nhân sự bằng lớp trí thức và tái cấu trúc nhà nước, học hỏi các mô hình quản lý đương thời, kiểm soát và hạn chế xung đột phe nhóm.
Trung tâm của quá trình này là một dự án chuyển đổi mang tính cấu trúc từ một chính quyền quân sự sang một chính quyền hành chính. Mười năm đầu tiên của Minh Mệnh không có gì hơn là chuyện tạo ra một hệ thống các quan chức trung thành. Một bộ máy trung thành nhằm thay đổi sâu về cấu trúc, về logic vận hành của toàn bộ bộ máy, đưa tới cuộc cải tổ toàn diện tăng cường tập quyền, thống nhất hành chính và nâng cao hiệu lực quản lý. Cuộc cải cách hành chính của ông chia Việt Nam làm 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên, đã định hình ra cấu trúc địa chính trị - hành chính và bản sắc của đất nước cho đến ngày hôm nay.
Ông có chủ đích khi xây dựng môi trường hành chính - với "thủ pháp" làm cho hệ thống hành chính trở nên "rắc rối" hơn. "Làm thế nào để chuyển từ quân sự sang dân sự? Cách tốt nhất là làm cho hệ thống chính trị trở nên phức tạp... Làm cho càng phức tạp, càng nhiều giấy tờ, quy trình thì các tướng sẽ tự dần dần rút lui ra khỏi hành chính", TS Vũ Đức Liêm nhận định.
Ảnh: Shutterstock
Trung tâm của "cú sốc" này là một cuộc xung đột lớn về phe phái. Phong cách thực hành chính trị và hành chính ở Huế ít nhất trong 10 năm đầu cầm quyền của Minh Mệnh là củng cố hệ thống, tăng cường thể chế, trong đó việc xác lập các "luật chơi" mới về quan hệ quyền lực, lễ nghi, và hành chính, làm cho giới quan liêu ngỡ ngàng.
Nó buộc Lê Văn Duyệt, Lê Chất, những người "tính nóng nảy", "nói năng không theo lễ độ" phải thực hành các nghi lễ và quy phạm hành chính mới. Lê Chất được cho đã phàn nàn rằng: "nay triều đình dùng văn thần để sắp đặt nền chính trị. Lũ võ biền như ông tốt nhất là dâng biểu xin từ chức hai thành, về kinh chầu hầu thì may ra mới không có tội lỗi gì". Hai người này thậm chí từng quỳ khóc trước Minh Mệnh và xin trả ấn tín.
Song song với đó là việc xây dựng năng lực của nhà nước trong việc thu thập thông tin, ra quyết định và thực thi chính sách. Các cơ quan như nội các và cơ mật viện được thiết lập để đảm bảo dòng chảy thông tin và kiểm soát quyền lực. Tuy nhiên, nền tảng của hệ thống này không phải là niềm tin vào thể chế chung chung trừu tượng, mà là niềm tin vào kiểm soát cụ thể.
"Minh Mệnh là nhà vua cai trị cực kỳ chi tiết. Ông có một đặc trưng mà có lẽ là không chỉ của ở thời kỳ này đâu mà trong cả lịch sử Việt Nam là không tin vào thể chế, không tin vào người mà tin vào chữ ký và con dấu", TS. Vũ Đức Liêm nói. Hệ quả của việc kiểm soát chặt chẽ này là một bộ máy hành chính chi tiết tới mức quá chi li (từ các văn bản bổ nhiệm cai đội các tỉnh cũng phải gửi tấu sớ lên hoàng đế), gây gánh nặng khổng lồ quay trở lại trì níu bộ máy chính quyền.
Mùa đông năm 1833, vua Minh Mệnh đi thăm kho Nội các đã phàn nàn: "Đường lối chính trị cốt ở giản yếu. Từ trước, vẫn thấy giấy tờ ở các nha dâng lên, làm theo lề lối phần nhiều phiền phức, vụn vặt. Nếu không chước lượng giảm bớt, thì giấy tờ xiết bao bề bộn: trâu kéo đến toát mồ hôi, chất đống phải cao đến xà nhà!" Hình ảnh "giấy tờ cao chất lên đến tận xà nhà, trâu kéo toát mồ hôi" mà Minh Mệnh dùng để mô tả bộ máy hành chính là biểu hiện của một nhà nước đang cố gắng kiểm soát mọi thứ thông qua văn bản và quy trình.
Theo cách nhìn của PGS.TS Trần Trọng Dương, đây là một "kỹ thuật" hành chính hóa quyền lực "phức tạp hóa hệ thống chính quyền và phức tạp hóa các hệ thống văn bản hành chính... để thay máu nhân sự và tạo nên một lớp người mới trong việc quản trị quốc gia."
Cũng chính ở điểm này, những giới hạn của hệ thống bắt đầu lộ ra. Bởi hiệu quả hiệu lực của một bộ máy nhà nước không chỉ là các hoạt động hành chính, mà nằm ở điều hòa các mối quan hệ trong xã hội, kết nối xã hội. Và trong trường hợp Việt Nam đầu thế kỷ 19 thì mối quan hệ đó đã bị đứt gãy từ rất sớm.
Hệ quả của một hệ thống không tương thích với cấu trúc xã hội
Linh hồn thực sự của quản trị xã hội luôn nằm ở mối quan hệ của nhà nước với các cộng đồng làng xã. Việc tương tác, việc quản trị được các cộng đồng này chính là sự sống còn của nhà nước, chứ không chỉ đơn thuần là thiết kế cấu trúc nhà nước sao cho chặt chẽ.
Trong lịch sử Việt Nam, thế kỷ thứ 10-11 trở đi, quá trình người Việt bắt đầu mở rộng quản lý vùng châu thổ sông Hồng này, cũng chính là một diễn trình tương tác liên tục của nhà nước và tính tự trị của làng xã. Nhưng từ thế kỷ 16 trở đi, nhiều xung đột xảy ra, quá trình này đã đi theo một hướng khác.
"Từ thế kỷ thứ 16 đường ai người ấy đi. Nhà nước ngày càng đi xa làng xã, làng xã buộc phải ‘quân sự hóa’ trước tình hình chiến tranh liên miên", TS. Vũ Đức Liêm cho biết. Làng xã trở thành một đơn vị tự trị mạnh, với logic vận hành riêng, trong khi nhà nước ngày càng khó can thiệp vào vận hành của làng.
Tranh ''Cánh đồng lúa sống động'' của Joseph Inguimberty (1896-1971).
Đặc biệt khi vận hành của hệ thống với bộ máy cồng kềnh nặng nề quan liêu bị thất bại, mối quan hệ giữa nhà nước và dân chúng bị rạn vỡ...hệ quả là một tình trạng phân ly kéo dài. "Nước và làng đi theo hai hướng khác nhau." Nhà nước tồn tại như một cấu trúc xa xôi ở trên, trong khi đời sống thực tế của người dân được điều chỉnh bởi cấu trúc quyền lực nội bộ trong các làng địa phương.
Mùa hè năm 1834, quan Bố chính Bắc Ninh, Nguyễn Khắc Hài, đi khám đê Đông Ngàn (nay thuộc Từ Sơn), đến làng Long Tửu thì bị "giặc" chặn đánh. Ông cùng đoàn tùy tùng chạy vào làng Đông Xá xin cứu viện, nhưng dân làng chẳng những không cứu giúp mà còn đóng cổng không cho vào, kết quả là Nguyễn Khắc Hài và toàn bộ phái đoàn bị giết ngay bên ngoài cánh cổng làng đóng chặt.
Tin báo về Huế ngay lập tức Minh Mệnh, "sửng sốt" và vô cùng giận dữ. Ngay giữa thanh thiên bạch nhật, dưới thiên hạ mà ông là thiên tử, một viên Bố chính (tương đương phó Chủ tịch tỉnh) do ông đích thân bổ nhiệm, bị giết hại ngay trước mắt, mà dân làm ngơ. Đây là câu chuyện về làng xã nổi loạn và bạo lực xã hội ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX, trong thế giới mà cái chết của Nguyễn Khắc Hài chỉ là một chi tiết của bức tranh lớn bạo lực xã hội, vùng nông thôn nổi loạn và ở quy mô lớn làm xói mòn quyền lực chính trị trung tâm.
Trong một cấu trúc như vậy, việc thực thi ngay cả các chức năng cơ bản của nhà nước cũng gặp khó khăn. Với người dân các làng xã thời điểm ấy, việc tuân theo luật pháp trở thành "lựa chọn" chứ không bắt buộc, việc thu thuế, quản lý dân cư, hay thực thi chính sách đều bị phân mảnh do cấu trúc của các làng xã.
Đặc biệt, việc huy động nguồn lực cho các mục tiêu lớn gần như bất khả. Hệ quả bộc lộ rõ nhất khi đối mặt với khủng hoảng. Lần đầu tiên trong lịch sử đất nước, khi có giặc ngoại xâm, nhà nước kêu gọi nhưng người dân không quan tâm. Khi người Pháp đến, nhà Nguyễn kêu gọi, nhưng "dân không đáp lời".
Đây không chỉ là một thất bại quân sự, mà là một thất bại của cấu trúc chính trị - khi một nhà nước không thể huy động xã hội của mình trong thời điểm quyết định. "Henri Rivière mang theo 283 mống lính nhưng dám yêu cầu Tổng đốc Hoàng Diệu có 7.000 lính bỏ thành Hà Nội đầu hàng", TS. Vũ Đức Liêm kể và bình luận: Điều đó phản ánh điều gì? Tâm lý của thời đại, cấu trúc của thời đại, tâm lý của quân triều đình bị suy yếu. Một nhà nước có thể có bộ máy, có quân đội, có thiết chế, nhưng lúc đó không còn khả năng huy động xã hội của mình.
Nhìn lại toàn bộ quá trình từ Gia Long đến Minh Mệnh, có thể thấy một nỗ lực to lớn, bền bỉ nhằm xây dựng một nhà nước thống nhất, hiện đại theo nghĩa hành chính nhưng đồng thời cũng thấy rõ những giới hạn của nỗ lực đó. Một hệ thống có thể được thiết kế rất tinh vi, nhưng nếu không tương thích với cấu trúc xã hội, không tạo được sự gắn kết giữa nhà nước và cộng đồng, thì nó sẽ vận hành trong trạng thái căng thẳng thường trực.
Có lẽ vì thế, bài học quan trọng nhất không nằm ở việc đánh giá một triều đại "thành công" hay "thất bại", mà ở cách hiểu về vận hành của triều đại ấy, như PGS.TS Trần Trọng Dương kết luận tại buổi tọa đàm. Việc phân tích, nhìn nhận những bài học của lịch sử giúp chúng ta nhận diện nhiều vấn đề đang hiện hữu trong văn hóa hiện nay, bởi nền chính trị đã vận hành khác đi, nhưng cơ tầng văn hóa, căn cốt và bản sắc văn hóa không dễ dàng thay đổi trong ngắn hạn. Những vấn đề hiện nay chúng ta vẫn đang phải nỗ lực giải quyết như nền hành chính nặng giấy tờ, tư duy làng xã, ứng xử "đối phó" với các quy định của pháp luật, ... dường như vẫn còn mẫu số chung với lịch sử hai trăm năm trước.
Các diễn giả và cử tọa tại buổi tọa đàm. Ảnh: Mỹ Hạnh
Cuộc nói chuyện của TS. Vũ Đức Liêm về cách xây dựng thể chế dưới triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ 19 đã kết thúc nhưng vẫn còn lại những câu hỏi mở khác. Phần hỏi đáp của độc giả cũng để lại nhiều câu hỏi rất thú vị, như chính sách kinh tế, giáo dục, vị thế kinh tế Việt Nam thời kỳ này... đã được TS. Vũ Đức Liêm giải đáp nhưng cũng là đề tài mở ra để thảo luận trong các bài viết/ tọa đàm tiếp theo của Tia Sáng.
Giải ảo về "bế quan tỏa cảng"
"Minh Mệnh không đóng cửa. Minh Mệnh hiểu biết về bên ngoài. Minh Mệnh cập nhật tất cả những gì đang diễn ra ở bên ngoài. Minh Mệnh cử người sang châu Âu học phiên dịch... Sử gia Alexander Woodside nói rằng thậm chí Minh Mệnh còn hiểu biết về phương Tây nhiều hơn nhà Thanh" TS. Vũ Đức Liêm giải thích khi một bạn đọc hỏi về chính sách bế quan tỏa cảng dưới thời Minh Mệnh. "Bế quan tỏa cảng" trước tiên là diễn ngôn của người Pháp thời đó.
Thực tế Minh Mệnh đặt mua báo chí từ Trung Quốc và các khu vực khác, theo dõi cả những nguồn ngoài chính sử; "Đại Nam thực lục" chép rằng ông biết cả những sự kiện như một trận bão tuyết lớn ở Bắc Kinh mà báo của triều đình nhà Thanh không đăng. Để khắc phục khoảng trống thông tin khi chỉ có nguồn "chính thống" qua các báo, ông còn dựa vào mạng lưới thương nhân người Hoa, yêu cầu họ ghi chép và báo lại những biến động bên ngoài.
Minh Mệnh đọc các tài liệu quân sự phương Tây, nhận ra cách tổ chức khác biệt của quân đội châu Âu, chẳng hạn việc giảm tối đa lực lượng cầm cờ, và điều chỉnh lại trong nước. Ông cân nhắc nhập vải dệt công nghiệp của Anh để may quân phục, tìm nguồn thuốc súng mới qua Singapore thay cho loại truyền thống, và theo dõi sát các biến động quốc tế đến mức từng nhận định Trung Quốc khó tránh khỏi thất bại trước Anh...