Tuy nhiên, cơ hội này cũng đi kèm với thách thức chuyển đổi kỹ năng và đảm bảo công bằng cho lao động trong ngành bị ảnh hưởng.
![]() |
Xanh hóa lĩnh vực giao thông sẽ giúp nhân loại sớm đạt mục tiêu Net Zero như cam kết. Ảnh: NetZero.VN |
Việc làm xanh trong lĩnh vực giao thông vận tải được xác định theo ba tiêu chí: có điều kiện lao động thỏa đáng (hợp đồng, BHXH, thu nhập tối thiểu, giờ làm hợp lý), góp phần giảm tiêu thụ năng lượng/nhiên liệu hoặc sử dụng năng lượng sạch hơn, và góp phần giảm chất thải phát sinh trong hoạt động giao thông.
Thay đổi bức tranh nghề nghiệp
Ước tính của tư vấn quốc gia dựa trên dữ liệu doanh nghiệp thực hiện năm 2021 của Tổng cục Thống kê (GSO) cho thấy, ngành giao thông vận tải có hơn 80.000 doanh nghiệp với tổng số khoảng 1,3 triệu lao động. Trong đó lao động nam chiếm khoảng 71% và lao động nữ chiếm khoảng 29%. Lĩnh vực đường bộ có số lượng doanh nghiệp lớn nhất chiếm 94,1%, tiếp theo là đường thủy nội địa với 3,6%, vận tải biển với 1,3%, đường sắt với 0,7% và cuối cùng là đường hàng không chỉ với 0,2%.
Trong khi đó, những tiến bộ công nghệ của cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình chuyển đổi năng lượng (đặc biệt rõ rệt trong lĩnh vực đường bộ) đều đang định hình lại các mô hình việc làm và yêu cầu về kỹ năng trên toàn bộ chuỗi sản xuất, vận hành và bảo dưỡng phương tiện giao thông, theo Báo cáo "Nghiên cứu đánh giá việc làm xanh trong ngành giao thông vận tải - tập trung lĩnh vực giao thông vận tải đường bộ" được Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) công bố gần đây.
"Đánh giá việc làm xanh là một chủ đề nghiên cứu mới, các phương pháp khác nhau đã được phát triển ở các quốc gia khác nhau và có nhiều cách khác nhau để đo lường việc làm xanh như phương pháp tiếp cận theo ngành và phương pháp tiếp cận theo nghề nghiệp", nhóm nghiên cứu cho biết. Để đưa ra kết quả đánh giá toàn diện về quá trình chuyển đổi sang giao thông xanh của Việt Nam sẽ tác động đến việc làm năm 2030 và sau đó như thế nào, Báo cáo đã kết hợp mô hình kinh tế vĩ mô FRAMES, phân tích nghề nghiệp và khảo sát ngành để đánh giá cơ hội tạo việc làm và chuyển đổi trong bối cảnh các cam kết về khí hậu của Việt Nam. Cụ thể, nghiên cứu này sử dụng dữ liệu nghề nghiệp từ danh sách việc làm xanh do O*NET (Mạng thông tin nghề nghiệp) Mỹ tạo ra vào năm 2010 - cơ sở dữ liệu phân loại việc làm xanh dựa trên các đặc điểm nghề nghiệp và bất kỳ công việc nào chịu ảnh hưởng của quá trình xanh hóa đều được tính là việc làm xanh.
Kết quả cho thấy, việc thực hiện các cam kết giảm phát thải theo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) được dự báo có thể tạo thêm khoảng 99.000 việc làm vào năm 2030, trong đó phần lớn là việc làm xanh. Đáng chú ý, ngành sản xuất xe điện chiếm tỷ trọng lớn nhất với 74.000 việc làm, tiếp đến là lĩnh vực năng lượng và điện khí hóa với khoảng 7.900 việc làm trong các ngành điện, khí đốt và điều hòa. Bên cạnh đó, chuỗi cung ứng xe điện và hạ tầng sạc cũng hứa hẹn mở rộng đáng kể cơ hội việc làm xanh.
Không chỉ vậy, lộ trình phi carbon hóa trong giao thông vận tải của Việt Nam cũng tạo ra sự phân bổ lại đáng kể việc làm trong các ngành kinh tế. Lĩnh vực đường sắt thúc đẩy tăng trưởng việc làm đáng kể trong ngành giao thông, trong khi sản xuất và nông nghiệp có mức tăng việc làm vừa phải. Ngược lại, các ngành xây dựng và phân phối phải đối mặt với tình trạng cắt giảm việc làm khi nhu cầu về các sản phẩm dầu mỏ giảm.
Nhìn chung, bằng cách áp dụng các chính sách NDC về giao thông, Việt Nam có thể giảm phát thải khí nhà kính từ ngành giao thông và tạo ra nhiều nhu cầu hơn đối với các công việc có kỹ năng cao và xanh. Theo các tác giả, tác động lên toàn bộ nền kinh tế Việt Nam là nhỏ, nhưng không giống nhau đối với các ngành hoặc nghề khác nhau. "Các công việc trong chuỗi cung ứng nhiên liệu hóa thạch truyền thống và các công việc không chính thức có nhiều khả năng bị mất do quá trình chuyển đổi. Do đó, các chính sách bổ sung như các chương trình đào tạo và tái định cư để giúp đỡ những người lao động bị ảnh hưởng bởi những thay đổi này sẽ rất cần thiết để đảm bảo quá trình chuyển đổi công bằng", báo cáo của UNDP nhấn mạnh.
Thách thức trong việc đào tạo
Việc chuyển đổi sang hệ thống truyền động điện đòi hỏi kỹ năng mới trong sản xuất pin, lắp ráp động cơ điện, tích hợp hệ thống điện tử và phát triển hạ tầng sạc. Đây được xem là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam phát triển chuyên môn ở những lĩnh vực có mức độ cạnh tranh toàn cầu chưa quá khốc liệt. Bên cạnh đó, người lái xe sẽ cần được đào tạo để thích ứng với đặc thù của xe điện, từ tối ưu hóa quãng đường di chuyển, quy trình sạc đến bảo dưỡng xe. Dù các kỹ năng lái xe cơ bản vẫn có thể chuyển giao, nhưng đồng thời cũng cần bổ sung kiến thức kỹ thuật. Lao động cơ khí cũng cần được trang bị thêm kiến thức về điện – điện tử và chẩn đoán kỹ thuật số, theo UNDP.
Để bảo đảm lực lượng lao động thích ứng với xu hướng giao thông xanh, báo cáo nhấn mạnh một loạt giải pháp về phát triển nguồn nhân lực. Trước hết, cần có chính sách hỗ trợ người lao động chuyển đổi nghề nghiệp, đặc biệt là những nhóm bị tác động trực tiếp như công nhân trong ngành sản xuất, sửa chữa ô tô truyền thống, tài xế, nhân viên nghiên cứu công nghệ phương tiện, sản xuất phụ tùng hay nhân viên bán hàng. Các chính sách này nhằm giúp họ tìm kiếm và tiếp cận cơ hội việc làm mới trong bối cảnh thay đổi công nghệ.
Song song, ngành giao thông vận tải cần đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại và nâng cấp kỹ năng cho lực lượng lao động hiện có, để sẵn sàng tiếp quản, quản lý và vận hành các phương tiện cùng hạ tầng giao thông công nghệ mới, không phát thải khí nhà kính. Các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề và thậm chí trung học phổ thông cũng được khuyến nghị bổ sung môn học, chuyên ngành về phương tiện xanh, năng lượng tái tạo và hạ tầng giao thông bền vững.
Bên cạnh đó, cần điều chỉnh các chương trình đào tạo theo nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, tăng cường gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực sau đào tạo. Các hãng sản xuất xe điện, xe xanh được khuyến khích triển khai chương trình hỗ trợ sinh viên thực tập và tuyển dụng ngay sau khi kết thúc quá trình học tập.
Cuối cùng, báo cáo kêu gọi huy động nguồn lực xã hội và quốc tế cho phát triển nhân lực ngành giao thông trong bối cảnh chuyển đổi xanh. Điều này bao gồm việc xây dựng cơ chế huy động vốn trong nước, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế về vận tải sử dụng điện và năng lượng sạch, tổ chức các chương trình tham quan, trao đổi, đào tạo nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển hiện nay.
Nhìn rộng hơn, Việt Nam cần đẩy mạnh chuyển đổi năng lượng công bằng trong lĩnh vực giao thông vận tải thông qua một loạt chính sách đồng bộ. Trước hết, cần tăng cường chính sách hỗ trợ sản xuất và lắp ráp xe điện, với tỷ lệ nội địa hóa cao nhằm phục vụ cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Song song, việc kích thích nhu cầu tiêu dùng xe điện phải được thúc đẩy bằng các chính sách thuế hấp dẫn, bao gồm miễn giảm và ưu đãi thuế đủ mạnh để khuyến khích người dân chuyển đổi.
Một trụ cột quan trọng khác là phát triển cơ sở hạ tầng sạc điện. Các quy định cần đảm bảo hạ tầng sạc hợp tác, dễ tiếp cận, có khả năng tương thích giữa các loại xe và tiêu chuẩn kết nối khác nhau, đồng thời tận dụng hiệu quả nguồn năng lượng tái tạo tại chỗ, đặc biệt là điện mặt trời.
Trong dài hạn, việc quy hoạch và quản lý mạng lưới trạm sạc cần được thiết kế để đội xe điện quốc gia có thể vận hành như một "cục pin ảo", kết nối với hệ thống điện địa phương, chiếu sáng công cộng và các công ty công nghệ thông tin nhằm tối ưu quản lý cung – cầu.
"Ngoài ra, cần sớm có kế hoạch cụ thể mở rộng các tuyến xe buýt điện, đi kèm với các chính sách hỗ trợ quá trình chuyển đổi phương tiện và phát triển mạng lưới trạm sạc chuyên dụng, góp phần thúc đẩy giao thông xanh và công bằng", nhóm nghiên cứu đề xuất.
Bài đăng KH&PT số 1362 (số 38/2025)
Kim Dung
