Nhưng những con người như vậy không thể được tạo ra chỉ bằng những lời kêu gọi, những khẩu hiệu truyền cảm hứng hay những bài văn đầy nhiệt huyết. Họ chỉ có thể xuất hiện trong một môi trường xã hội đủ cởi mở để khuyến khích tư duy độc lập, đủ bao dung để chấp nhận những góc nhìn khác biệt, đủ tự tin để đối thoại với quá khứ, và đủ ít vùng cấm để sức sáng tạo có không gian phát triển.
Từ góc nhìn ấy, những tranh luận gần đây xoay quanh lịch sử, văn hóa, tác phẩm văn chương viết về anh hùng dân tộc hay các biểu tượng truyền thống được khai thác trong nghệ thuật đương đại không còn là những câu chuyện riêng lẻ. Chúng gợi ra một câu hỏi căn bản hơn: chúng ta đang xây dựng một nền giáo dục và một môi trường nhận thức như thế nào cho các thế hệ tương lai?
Lâu nay, mỗi khi xã hội xuất hiện một tranh luận liên quan đến lịch sử – từ phim ảnh, văn chương cho tới việc sử dụng các biểu tượng văn hóa truyền thống – chúng ta thường chứng kiến những phản ứng rất mạnh từ công chúng. Không ít người cảm thấy bị xúc phạm khi một nhân vật lịch sử được khắc họa khác với hình dung quen thuộc; một biểu tượng văn hóa được diễn giải theo cách mới; hay một giai đoạn lịch sử được nhìn nhận từ một góc độ khác lạ ...
Liệu chúng ta đã đủ khoan dung với khác biệt, sáng tạo và dạy trẻ trên tâm thế ấy? Ảnh: Lệ Nguyễn
Những tranh luận ấy thường được giải thích bằng tình yêu nước, lòng tự hào dân tộc hay ý thức bảo vệ truyền thống. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn, những phản ứng ấy không chỉ phản ánh thái độ của cá nhân, mà còn phản ánh cách một xã hội được giáo dục để nhìn nhận quá khứ của mình. Nói cách khác, chúng ta đều là sản phẩm của nền giáo dục mà mình đã kinh qua.
Vì vậy, xét ở tầm vĩ mô, cần đặt câu hỏi mục tiêu của việc dạy và học lịch sử có vai trò gì trong việc xây dựng năng lực nhận thức xã hội, những thế hệ có năng lực tư duy ngày càng tiến bộ, sâu sắc và toàn diện.
Trong nhiều thập niên qua, mục tiêu của nền giáo dục nói chung và giáo dục lịch sử nói riêng ở Việt Nam được xác định khá rõ ràng. Các văn bản giáo dục đều nhấn mạnh việc bồi dưỡng lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tinh thần dân tộc và ý thức trách nhiệm đối với đất nước. Đây là cách tiếp cận từng phổ biến ở nhiều nước trong quá trình xây dựng bản sắc quốc gia hiện đại. Tuy nhiên, cách tiếp cận ấy cũng dẫn đến một hệ quả đáng suy nghĩ.
Khi mục tiêu hàng đầu của việc học lịch sử là để yêu và để tự hào, lịch sử dễ được nhìn nhận như một công cụ giáo dục tình cảm hơn là nhận thức có tính khoa học. Điều đó dẫn tới người học tiếp thu kiến thức về quá khứ kèm theo định hướng sẵn về cảm xúc cần có đối với quá khứ ấy, thay vì được định hình một thói quen tư duy độc lập, rộng mở trước các phân tích, đối chiếu, kiểm chứng khách quan.
Trong một mô hình như vậy, những câu chuyện vẻ vang thường được nhấn mạnh hơn những thất bại; những chiến công thường được kể nhiều hơn những sai lầm; những nhân vật lịch sử thường được trình bày như các hình mẫu lý tưởng hơn là những con người bằng xương bằng thịt với đầy đủ ưu điểm và hạn chế.
Học sinh đua rước kiệu, mô phỏng kiệu voi của Hai Bà Trưng. Ảnh:Lệ Nguyễn
Điều này không nhất thiết xuất phát từ sự cố ý bóp méo lịch sử. Nó là hệ quả gần như tự nhiên của một mục tiêu giáo dục đã được xác định từ trước. Khi mục tiêu là tạo ra lòng tự hào, người ta sẽ có xu hướng lựa chọn những gì đáng để tự hào. Khi mục tiêu là khơi dậy tình yêu, người ta sẽ có xu hướng tránh né những điều có thể làm tổn thương cảm xúc ấy. Nhưng lịch sử vốn không đơn giản như vậy.
Lịch sử là câu chuyện của con người, mà con người thì không hoàn hảo. Các triều đại có những thành tựu lớn lao nhưng đôi khi cũng có những sai lầm nghiêm trọng. Những vị anh hùng dân tộc có thể sở hữu những phẩm chất phi thường, đồng thời cũng mang những giới hạn rất đời thường của bản thân mỗi cá nhân và thời đại họ sống. Một dân tộc có thể có những trang sử huy hoàng, nhưng cũng có những giai đoạn khủng hoảng, chia rẽ hay thất bại. Đặc biệt, trong vô vàn trường hợp, rất khó để có thể phán xét một con người, một sự việc là đúng hay sai, tốt hay xấu, có công hay có tội. Nếu chỉ nhìn thấy một nửa của quá khứ, một mặt của vấn đề, chúng ta sẽ khó lòng hiểu được toàn bộ những gì đã thực sự diễn ra.
Nhiều nền giáo dục trên thế giới hiện nay đang dần chuyển trọng tâm từ việc truyền đạt những kết luận có sẵn sang việc rèn luyện năng lực nhận thức lịch sử. Sự thay đổi này không phải ngẫu nhiên. Nó xuất phát từ nhận thức ngày càng rõ rệt rằng: lịch sử không chỉ có chức năng xây dựng bản sắc cộng đồng, mà còn có chức năng rèn luyện năng lực tư duy của công dân. Trong cách tiếp cận ấy không nhất thiết yêu cầu tất cả học sinh phải có cùng một cảm xúc hay cùng một quan điểm về lịch sử. Điều quan trọng hơn là bồi dưỡng cho học sinh khả năng tiếp cận lịch sử bằng tư duy khoa học, biết đặt câu hỏi, biết đánh giá chứng cứ và biết chấp nhận sự phức tạp của đời sống con người.
Có lẽ đây cũng là điều mà giáo dục lịch sử Việt Nam cần suy nghĩ trong tương lai. Thay vì chỉ đặt trọng tâm vào việc học để yêu và để tự hào, chúng ta có thể hướng tới việc học để hiểu biết và để cảm thông.
Hiểu biết không đồng nghĩa với việc phủ nhận những thành tựu của dân tộc. Hiểu biết cũng không đồng nghĩa với việc đánh mất lòng yêu nước. Ngược lại, hiểu biết giúp cho tình yêu ấy trở nên trưởng thành hơn. Một tình yêu được xây dựng trên sự lý tưởng hóa thường mong manh. Chỉ cần một sự thật mới xuất hiện, niềm tin ấy có thể bị chấn động, lung lay, hoặc sinh ra những phản ứng phòng vệ một cách cực đoan. Nhưng một tình yêu được xây dựng trên sự hiểu biết toàn diện lại có khả năng bền vững hơn nhiều, bởi nó sẵn sàng chấp nhận đối tượng của mình như là chính họ, không cần hoàn hảo, và mỗi dữ kiện mới phát sinh đều được tiếp nhận bằng thói quen suy xét lý tính, điềm tĩnh, rộng lượng và thấu đáo.
Chúng ta nên suy nghĩ một cách cẩn trọng, thấu đáo để điều chỉnh mục tiêu giáo dục lịch sử tiệm cận hơn với bản chất giáo dục một bộ môn khoa học. Mục tiêu của môn lịch sử không phải là đào tạo một cách đơn giản, nhanh chóng nhất ra những học sinh cùng tự hào về một điều nào đó, mà trước hết nên giúp người học tự định hình hiểu biết về quá khứ một cách sâu sắc, toàn diện, gần với sự thật nhất có thể. Từ sự hiểu biết ấy, tình yêu đất nước có thể xuất hiện, ý thức trách nhiệm công dân có thể xuất hiện, và niềm tự hào cũng có thể xuất hiện. Nhưng đó là những kết quả tự nhiên của nhận thức, không phải những kết luận được xác định sẵn ngay từ đầu.
Một dân tộc trưởng thành không phải một dân tộc chỉ biết tự hào về quá khứ. Một dân tộc trưởng thành là một dân tộc đủ tự tin để nhìn thẳng vào quá khứ của chính mình. Thấy những vinh quang mà không quên những giới hạn, thấy những thành tựu mà không phủ nhận những sai lầm, thấy những anh hùng nhưng cũng thấy những khuôn mặt thế tục...
Khi quá khứ được nhìn nhận bằng sự hiểu biết thay vì sự thần thánh hóa, các thế hệ sau sẽ có quyền tự do sáng tạo, biểu đạt và đối thoại với lịch sử trên cơ sở tôn trọng, chứ không phải tôn thờ. Lịch sử khi ấy không còn là một vùng cấm của tư duy, mà trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho học thuật, văn chương, nghệ thuật và đời sống tinh thần.
Và khi đó, xã hội cũng dần hình thành một tâm thế bao dung hơn, trước những cách diễn giải khác biệt. Thay vì vội vàng phán xét theo lối đúng - sai một chiều trong các tranh luận - chẳng hạn về các nhân vật hay sự kiện lịch sử - người ta có thể bình tĩnh lắng nghe và đối thoại trên cơ sở tri thức và lý lẽ.
Rất có thể, khi một nền tảng tinh thần bao dung và cởi mở được xây dựng, khi giáo dục khuyến khích hiểu biết thay vì áp đặt kết luận, khi xã hội biết tôn trọng sự khác biệt trong nhận thức, khi nội lực văn hóa được bồi đắp bằng tri thức, sự tự tin và khả năng đối thoại với thế giới, những nhà sáng lập, những nghệ sĩ, những nhà tư tưởng mang tầm vóc lớn sẽ dần xuất hiện.
Bởi những tài năng lớn không sinh ra từ những lời kêu gọi. Chúng được nuôi dưỡng bởi môi trường. Cũng như những cây cao cho trái ngọt không thể mọc trên mảnh đất khô cằn, những con người có khả năng bước ra thế giới và đồng thời làm giàu cho bản sắc Việt Nam chỉ có thể được nuôi dưỡng trên một nền văn hóa đủ màu mỡ cho tự do tư tưởng, sức sáng tạo và khát vọng vươn lên.