![]() |
Sinh viên Trường ĐH Ngoại ngữ, ĐH Quốc gia Hà Nội, trong một hội thảo chuyên đề của đoàn chuyên gia kinh tế Hoa Kỳ. Ảnh: ulis.vnu.edu.vn |
Thế kỷ 21, giáo dục Việt Nam đang đứng trước những thách thức chưa từng có: trí tuệ nhân tạo dần thay thế nhiều công việc trí óc, khủng hoảng sinh thái đòi hỏi một năng lực tư duy vượt khỏi biên giới cá nhân và quốc gia. Trong khi đó, áp lực thi cử – bằng cấp – thành tích vẫn khiến học sinh lao vào luyện thi, săn học bổng, giải thưởng như những chỉ số thành công bắt buộc. Giữa những áp lực này, câu hỏi đặt ra là liệu nền giáo dục có đang bồi đắp những chủ thể tự do tư duy, hay chỉ đào tạo ra những cá thể phù hợp để thích nghi với các hệ thống hữu hạn?
Để tìm câu trả lời, hãy trở lại với Phan Châu Trinh – người đề xướng và truyền bá tư tưởng "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" vào đầu thế kỷ XX. Tư tưởng "thực học" của ông – học để làm việc, để kiến thiết quốc gia – là một trong những đóng góp tiên phong giúp Việt Nam thoát khỏi lối học từ chương, hư văn của Nho giáo. Như đã có nghiên cứu chỉ ra: "Ông chú trọng đến việc giáo dục sâu rộng, mang tri thức đến cho mọi người, làm cho xã hội trở thành một xã hội học tập, với tư tưởng cơ bản là thực học, thực nghiệp để phát triển đất nước" (tạp chí Khoa học – Trường Đại học Sư phạm TPHCM, số 42/2013). Nhưng nếu kế thừa một cách máy móc, "thực học" có nguy cơ bị giản lược thành đào tạo nghề nghiệp: học để có bằng cấp, để vận hành guồng máy kinh tế. Khi ấy, triết học, nghệ thuật, trực giác, chiều sâu nội tâm hay niềm vui tự thân dễ bị xem là thứ yếu, thậm chí là "xa rời thực tế".
Thực tế, chưa từng có bước ngoặt văn minh nào chỉ do kỹ năng nghề nghiệp thúc đẩy. Einstein, bên cạnh toán học, luôn chất vấn bản thể vũ trụ như một triết gia; Ada Lovelace, trong bản chú thích Note G (1843) mô tả máy giải tích của Babbage, đã dự cảm khả năng máy tính có thể soạn nhạc – một trực giác vừa khoa học vừa thi ca, điều khiến bà trở thành người đầu tiên nhìn thấy ở máy tính một tiềm năng nghệ thuật, vượt ra ngoài chức năng tính toán; còn Hayao Miyazaki, qua hoạt hình, gieo vào con người không chỉ khả năng mơ mộng mà cả ý thức sinh thái sâu xa. Những ví dụ ấy cho thấy: tri thức chỉ thật sự trở thành sức mạnh khai phóng khi vượt khỏi chức năng công cụ, nuôi dưỡng sáng tạo, lòng nhân ái và tự do tinh thần.
Tuy nhiên, cũng cần phân biệt rành mạch: có một dạng hư học mang dáng vẻ cần mẫn nhưng xa rời tinh thần khai sáng – lối học kinh viện thiên về tầm chương trích cú, phô diễn mà thiếu chuyển hóa nội tâm.
Cách ta định nghĩa "thông minh" cũng vì thế cần được xem xét lại. Lâu nay, học sinh giỏi các môn tự nhiên, đạt điểm số cao trong các kỳ thi thường được mặc định là thông minh; còn học sinh thiên về các môn xã hội, nghệ thuật hoặc không xuất sắc trong các bài kiểm tra chuẩn hóa dễ bị xem là kém hơn. Trong khi chính các năng lực vốn khó lượng hóa - như tư duy, phản biện, tưởng tượng, hay sáng tạo - lại thường đóng vai trò quyết định thành công dài hạn và sự phát triển toàn diện.
![]() |
Phan Châu Trinh đề xướng và truyền bá tư tưởng "thực học" – học để làm việc, để kiến thiết quốc gia - vào đầu thế kỷ XX. Đồ họa: Nguyễn Hoàng Diệp |
Tinh thần học để làm việc, vốn được Phan Châu Trinh đề cao trong bài diễn thuyết Đạo đức và luân lý Đông – Tây (1925) về sau dần trở thành một hệ chuẩn trong xã hội, nhưng cũng kéo theo nguy cơ bị diễn dịch theo hướng giản lược học vấn thành công cụ thuần túy (Nguyễn Văn Trung, 1963; Hồ Sĩ Quý, 2010). Khi bị chi phối bởi lối tư duy ấy, giáo dục về cơ bản trở thành nơi sản xuất "nguồn nhân lực" cho guồng máy kinh tế hay tái tạo những khuôn mẫu thành công chuẩn hóa.
Phan Châu Trinh xem giáo dục là con đường thiết yếu để giải phóng dân tộc - không bằng vũ lực, mà qua "khai dân trí, chấn dân khí". Tư tưởng của ông, dù xuất phát từ nhu cầu lịch sử, đã vô tình đặt lên vai người học gánh nặng nghĩa vụ quốc gia mà có phần xem nhẹ mục tiêu mưu cầu tri thức hay phát triển cá nhân.
Ngày nay, gánh nặng này không biến mất mà chỉ đổi dạng: học để có việc làm, học để thoát nghèo, học để thành công. Tinh thần "học để làm việc" thiếu sự tự vấn dần trở thành một hệ hình phổ biến trong xã hội, nơi mười sáu tiếng lao lực được tung hô như biểu tượng thành công. Nhìn rộng ra, ta nhận thấy một khuynh hướng xuyên suốt: giáo dục dễ bị công cụ hóa để phục vụ những "đại tự sự" – cứu nước, thoát nghèo, hội nhập, hay phát triển. Những sứ mệnh đó của giáo dục đều xác đáng, nhưng sẽ là một khuyết thiếu lớn nếu giáo dục chỉ hướng người học đến những "sứ mệnh lớn lao" mà bỏ qua một mục tiêu căn bản khác: khai phóng con người tự do, dám hỏi thay vì chỉ trả lời, dám sai khác thay vì chỉ tuân phục, dám mơ mộng thay vì chỉ tính toán.
Trong bối cảnh thuộc địa, Phan Châu Trinh chủ trương "thực học" phương Tây và phê phán gay gắt Nho học giáo điều cùng chế độ khoa cử lạc hậu. Tuy nhiên, ông không chủ trương đoạn tuyệt toàn bộ truyền thống, mà vẫn khẳng định giá trị bền vững của các phạm trù "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín" và kêu gọi "điều hòa đạo đức Âu châu với đạo đức của ta" để kiến tạo nền luân lý quốc gia mới (Đạo đức và luân lý Đông – Tây). Giới hạn lịch sử của ông nằm ở chỗ: trong bối cảnh đất nước bị áp bức, ông buộc phải ưu tiên "thực học" như một phương tiện cấp bách, nên vô hình trung thu hẹp chân trời học tập vào những giá trị thực dụng, chưa kịp quan tâm đến việc bản địa hóa hay bảo tồn tính đa dạng của tri thức truyền thống. Trong khi thực tế cho thấy, Nhật Bản và Hàn Quốc thành công không nhờ phủ định truyền thống, mà nhờ tái định nghĩa nó – biến võ sĩ đạo thành kỷ luật quốc gia, Nho giáo thành đạo đức công dân, tinh thần cộng đồng thành động lực phát triển. Việt Nam cũng có những nền tảng tương tự: văn hóa làng xã có thể khơi dậy tinh thần hợp tác; Phật giáo nuôi dưỡng chánh niệm và cái nhìn sinh thái; Đạo giáo gợi mở sự linh hoạt và sáng tạo; truyền thống hiếu học, nếu thoát khỏi ám ảnh thi cử, có thể trở thành động lực cho tự học và khai phóng. Thậm chí, kho tàng ca dao tục ngữ dân dã cũng có thể trở thành mảnh đất nuôi dưỡng tư duy hình tượng và năng lực nghệ thuật – những điều máy móc không thể thay thế.
Phan Châu Trinh là một nhà cách mạng lớn, nhưng như mọi tư tưởng khai sáng, di sản của ông không thể là một chân lý bất biến. Bất cứ tư tưởng khai minh nào, qua thời gian, cũng cần mở ra đối thoại – với thời cuộc, và với chính những giới hạn của tư duy quá khứ. Và có lẽ, trung thành nhất với tinh thần "khai dân trí" mà Phan Châu Trinh khởi xướng không phải là giữ nguyên lời dạy của tiền nhân. Thay vào đó, phải dám đi xa hơn những giới hạn mà thời đại ông chưa thể vượt qua: kiến tạo nên một nền giáo dục nơi không chỉ đào tạo nghề nghiệp hay kỹ năng cạnh tranh, mà còn bồi dưỡng chiều sâu tinh thần, khả năng phản tư và năng lực sáng tạo. Chỉ khi con người có tự do nội tâm, thậm chí nuôi dưỡng một thứ "ái kỷ tích cực", niềm tự hào và tự trọng về tính độc nhất của mình – họ mới đủ sức đứng vững trước những biến động và bất định của thời đại số.
Bài đăng KH&PT số 1359 (số 35/2025)
Phạm Diệu Hương

