Đó là kết quả từ một nghiên cứu mới của các nhà khoa học Úc tại Đại học Curtin, Đại học Monash và Trung tâm Xuất sắc ARC về Xóa bỏ Bạo lực đối với Phụ nữ.
Ảnh hưởng tới nhận thức về quyền lực và bạo lực
Để phân tích tác động kéo dài của chiến tranh đối với các chuẩn mực xã hội về bạo lực gia đình tại Việt Nam, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình sai biệt trong sai biệt (difference-in-differences); kết hợp dữ liệu về cường độ ném bom, chi tiết tới cấp huyện giai đoạn 1965 - 1975 và dữ liệu khảo sát phụ nữ sinh ra trong giai đoạn 1956 - 1996 của Tổng cục Thống kê và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc.
Kết quả cho thấy, tác động của chiến tranh dai dẳng đến mức thậm chí hàng chục năm sau, nó vẫn âm thầm in dấu trong nhận thức và hành vi của nhiều người, chẳng hạn như cách họ nhìn nhận về bạo lực trong gia đình.
Càng sống trong khu vực bị ném bom dữ dội khi còn nhỏ, phụ nữ càng dễ cho rằng việc chồng đánh vợ là "có thể chấp nhận được" trong một số tình huống, chẳng hạn khi người vợ cãi lại, bỏ bê con cái hoặc từ chối quan hệ tình dục.
So sánh giữa nơi bị ném bom ít nhất và nhiều nhất, và thời gian sống trong chiến tranh tăng từ 0 lên 11 năm, nghiên cứu nhận thấy mức độ chấp nhận bạo lực của phụ nữ tăng khoảng 14%.
Hình ảnh trẻ em thành phố cùng mẹ sơ tán về nông thôn tại triển lãm Trẻ em thời chiến, 2016. Ảnh: VnExpress.
Đáng chú ý, không phải mọi giai đoạn phát triển đều chịu ảnh hưởng như nhau. Những người phải trong chiến tranh từ 0 - 9 tuổi có xu hướng chấp nhận bạo lực trong những tình huống liên quan đến quyền kiểm soát cơ thể, như từ chối quan hệ tình dục. Trong khi đó, nhóm trải qua chiến tranh từ 10 - 19 tuổi, giai đoạn hình thành rõ rệt các chuẩn mực xã hội, lại chịu tác động mạnh hơn ở các khía cạnh như vai trò gia đình, chăm sóc con cái hay mối quan hệ vợ chồng.
Nói cách khác, chiến tranh không chỉ là trải nghiệm nhất thời mà còn in dấu vào quá trình hình thành nhận thức về quyền lực và bạo lực.
Không chỉ tác động đến bản thân những người phụ nữ lớn lên trong chiến tranh, nghiên cứu còn phát hiện những hệ lụy xuyên thế hệ: những người phụ nữ này cũng có dấu hiệu ủng hộ việc dùng đòn roi để nuôi dạy con cái.
Trong một số trường hợp, họ còn có xu hướng sử dụng các hình thức phạt khác về tinh thần như nhiếc mắng, quát tháo để giáo dục con trai.
Điều này cho thấy, phụ nữ không chỉ cam chịu bạo lực hơn mà còn có xu hướng "tái lập" bạo lực lên thế hệ sau.
Củng cố khuôn mẫu giới, thiên kiến giới
"Việc phải sống trong chiến tranh từ rất nhỏ có thể khiến trẻ dần coi bạo lực là bình thường và hình thành suy nghĩ rằng đàn ông có quyền lực cao hơn", nhóm nghiên cứu lý giải trong bài báo.
Khi đi sâu vào cơ chế dẫn đến những hiện tượng này, nhóm nghiên cứu cho rằng một nguyên nhân quan trọng nằm ở việc chiến tranh làm gián đoạn quá trình học tập, đặc biệt là ở độ tuổi 10 - 19 tuổi. Những phụ nữ có trình độ học vấn thấp thường hiểu biết hạn chế hơn về các giá trị bình đẳng giới, từ đó cũng dễ chấp nhận việc bị chồng đánh đập hơn.
Hình ảnh học sinh đi theo giao thông hào vào hầm trú ẩn tại Triển lãm Trẻ em thời chiến, 2016. Nguồn: VnExpress.
Trong chiến tranh, đàn ông thường có nhiệm vụ xông pha ở tiền tuyến còn phụ nữ chăm lo việc hậu phương. Sự phân công vai trò này có thể củng cố các khuôn mẫu giới từ trước đó, khiến cho phụ nữ tin rằng sự phân chia thứ bậc giữa nam và nữ trong xã hội là điều tự nhiên, từ đó có xu hướng chấp nhận hoặc biện minh cho hành vi bạo lực của nam giới.
Những áp lực tinh thần và cách người phụ nữ phải xoay xở để sống sót, chăm lo gia đình trong thời chiến cũng có thể khiến họ dần hình thành thói quen ứng xử - điều tiếp tục ảnh hưởng đến phương pháp nuôi dạy con sau đó.
"Những phát hiện này cho thấy các yếu tố lịch sử và văn hóa, đặc biệt là sự phân chia vai trò giới trong chiến tranh, tiếp tục ảnh hưởng đến hành vi nuôi dạy con thời hậu chiến", nhóm nghiên cứu viết trong bài báo.
Và không chỉ ở Việt Nam, những di sản bạo lực của chiến tranh còn được phát hiện ở nhiều quốc gia khác. Chẳng hạn, một nghiên cứu năm 2024 tại 23 quốc gia châu Phi cho thấy, mức độ chấp nhận bạo lực gia đình ở những phụ nữ từng trải qua chiến tranh trước 20 tuổi cao hơn so với những phụ nữ sống cùng cộng đồng nhưng chỉ trải qua chiến tranh khi đã trưởng thành hoặc sinh ra khi cuộc chiến đã kết thúc.
Một phần nguyên nhân gốc rễ, theo các nhà nghiên cứu, là do sự "bình thường hóa" bạo lực và sự suy giảm tiếng nói của phụ nữ trong gia đình (học vấn thấp dẫn đến ít lựa chọn công việc, tăng phụ thuộc tài chính vào chồng, sức khỏe và khả năng sinh sản bị ảnh hưởng bởi chiến tranh,...).
Để phá vỡ vòng xoáy bạo lực gia đình kéo dài qua nhiều thế hệ, nhóm nghiên cứu Việt Nam và Úc cho rằng, các chính sách cần tập trung đầu tư vào giáo dục cũng như có các chương trình sức khỏe tâm thần hỗ trợ những người từng trải qua bạo lực xã hội thời thơ ấu
---
Tài liệu tham khảo:
Doan-Pham, P., Mavisakalyan, A., & True, J. (2026). The long-term relationship between war and attitudes toward domestic violence: Evidence from Vietnam. Journal of Behavioral and Experimental Economics, 122, 102567. https://doi.org/10.1016/j.socec.2026.102567
Ajefu, J. B., & Casale, D. (2024). Long-Term effects of childhood exposure to war on domestic violence. European Journal of Development Research, 37(1), 124–151. https://doi.org/10.1057/s41287-024-00659-4
La Mattina, G., & Shemyakina, O. N. (2024). Growing up amid armed conflict: Women’s attitudes toward domestic violence. Journal of Comparative Economics, 52(3), 645–662. https://doi.org/10.1016/j.jce.2024.04.002