Sông Đà, trong cuộc đối thoại với quá khứ

Những phần còn khuất lấp trong quá khứ về vùng biên viễn phía Bắc Tổ quốc giờ đây được phơi sáng trong một cuốn cảo thơm, “Sông Đà: Lịch sử một vùng biên cảnh Việt Nam”.

Bức tranh “Nhớ một chiều sông Đà” của họa sĩ Phan Kế An.

“Sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói Mèo đốt nương xuân” – nhiều người nhớ đến vẻ óng chuốt này của dòng sông, sau khi đi cùng Nguyễn Tuân qua “dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh trên sông đá”. Cái đẹp phi phàm, tráng lệ và độc đáo của tự nhiên được phủ thêm cái áo choàng bí ẩn của một vùng “phên dậu”, kế giáp hai quốc gia Trung Quốc và Lào, đồng thời cũng là nơi hợp lưu, chia tách của rất nhiều dòng chảy di cư nội vùng, ngoại vùng, đã tạo ra một sức hút riêng biệt cho sông Đà. 

Sức hấp dẫn của dòng chảy xuyên biên giới và cái lưu vực của nó, rộng gần 5,3 vạn cây số vuông địa hình hiểm trở “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” (Quang Dũng), khiến cho người ta tự hỏi: ngoài những dòng sử liệu ghi chép những sự kiện lớn lao định hình vùng đất này, còn có những thông tin nào bổ khuyết cho bức tranh giàu có và đa dạng trong quá khứ không? Bởi lẽ, những cánh cửa mới nhìn về quá khứ có thể giúp tái hiện, lý giải một thuở đã qua, mở ra một cuộc đối thoại của hiện tại với quá khứ để có thể bổ trợ cho tương lai. 

Do đó, “Sông Đà: Lịch sử một vùng biên cảnh Việt Nam” trở thành một mảnh ghép quan trọng của nơi “địa lý đã áp đặt cho lịch sử vai trò đặc biệt” như nhận xét của tác giả, nhà sử học Philippe Le Failler, Trưởng đại diện Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) tại Việt Nam.

Mảnh ghép hơn 600 trang này sẽ nói với chúng ta điều gì, ngoài những dòng sử liệu? 


Cái giàu có về tài nguyên tưởng chừng vô song của vùng đất này khiến không hệ thống quyền lực nào có thể làm ngơ.

Không gian địa lý làm nên không gian lịch sử

“Nếu có điều gì đó còn bí ẩn trên hành tinh này thì hẳn nó được nước dung chứa”, nhà nhân học và triết học Mỹ Loren Eiseley, trong tập tiểu luận xuất bản năm 1957 “The Immense Journey” (Cuộc du hành mênh mông), đã sử dụng hình ảnh con sông và trải nghiệm trôi nổi trên dòng nước để phản chiếu những thay đổi theo thời gian, không gian và sự kết nối của con người với cái khôn cùng của thế giới tự nhiên. Ở vùng Tây Bắc, cái mạch sống sông Đà (hay sông Đen như cách gọi của người Pháp khi đặt nó trong thế đối sánh với dòng chảy phù sa sông Hồng) và hai phụ lưu chính Nậm Na, Nậm Mức, đóng gói trong lòng mình những thăm thẳm ràng buộc của liên minh – phân mảnh, thịnh vượng – suy tàn, lợi ích – bổn phận, thuần phục – phản kháng, thủy chung – hận thù… nhưng sắc thái của chúng có thể biến đổi đậm nhạt theo thời thế và thời cuộc.

Lịch sử về sông Đà và vùng đất nó chảy qua, vun đắp và thách thức có thể còn rộng hơn thế. Đây là một chốn khác biệt so với những vùng đất còn lại của Việt Nam, không thể lấy cái kinh nghiệm khai phá, tổ chức và vận hành ở những vùng đất đó đặt lên sông Đà để chế ngự, xoay vần nó. Cái không gian trập trùng, hùng vĩ này, ngay từ dưới các triều đại phong kiến, đã là “một thực thể riêng biệt và hình thành một kiểu cô lập về địa lý và con người”, giúp nó vừa có thể tránh được những cuộc đánh chiếm, xâm lấn của các đội quân Trung Hoa lại vừa có sự độc lập tương đối với không gian quyền lực của triều đình trung ương qua các đời vua Lý, Trần, Lê… Sự cân bằng tương đối của vùng đất Tây Bắc, giữa những hệ thống quyền lực ở bên kia biên giới như Vân Nam, Trung Quốc, Lào và từ dưới miền xuôi vươn tới, là nhờ cả việc dựa vào các thế lực chao mường cha truyền con nối trên những vùng đất tự trị xưng vương. Philippe Le Failler cho rằng, việc cống nạp ba năm một lần của các mường không phải đảm bảo cho một sự trung thành tuyệt đối mà là biểu hiện thực tế của mối quan hệ quyền lực ở một thời điểm nhất định. “Các lãnh địa miền núi thường sử dụng quan hệ quyền lực để giải quyết vấn đề nội bộ”, khiến cho các triều đại bảo hộ Trung Hoa, Đại Việt và Ai Lao “không chỉ bị lôi kéo vào tranh chấp địa phương mà còn chống đối nhau”. Hệ quả của nó là “việc kiểm soát vùng biên như vậy sẽ có nhiều khó khăn: vừa phải tránh cho các vùng lãnh thổ này giành được độc lập, vừa phải khiến các thủ lĩnh tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và vừa phải ngăn họ tranh chấp với các cường quốc láng giềng”.

Đèo Văn Trì (ngồi bên trái) và quân Cờ đen năm 1890.

Sự độc đáo của 16 xứ mường ở vùng phên dậu của đất nước đã khiến các triều đại phong kiến Việt Nam luôn phải thực thi các chính sách vừa lỏng vừa chặt, khi cần có thể cất quân tiễu trừ những đầu lĩnh xứ mường phản loạn, không chịu cống nạp, rồi dạy dỗ đưa họ về đúng bổn phận hoặc vỗ về ban phát bổng lộc, chức tước, gắn kết thâm giao bằng các cuộc hôn nhân xếp đặt chốn cung đình. Để kiểm soát hoặc răn đe các xứ mường có dấu hiệu ngỗ ngược với triều đình, theo dòng thời gian, những tên tuổi quen thuộc với sử sách – những vị vua, thân vương, tướng lĩnh như Trần Nhân Tông, Trần Minh Tông, Lê Lợi, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Lê Sát, Nguyễn Quang Bích, Tôn Thất Thuyết… – đều từng vượt muôn vàn trở ngại “rừng thiêng nước độc”, không quản đường xá xa xôi cách trở, tìm cách thu phục nhân tâm. 

Tại sao vùng đất này lại có sức hấp dẫn lớn lao đối với các hệ thống quyền lực khiến cho họ không muốn nhả ra như vậy? Nếu có thể gói gọn câu trả lời vào một vài chữ thì đó là tài nguyên thiên nhiên và vị trí chiến lược. Trước hết, cái giàu có về tài nguyên tưởng chừng vô song của vùng đất này khiến không hệ thống quyền lực nào có thể làm ngơ. Dẫu các ngành công nghiệp khai khoáng lúc đó còn chưa biết đến trữ lượng đất hiếm của vùng Tây Bắc nhưng qua bao đời, người ta đã biết rằng vùng này ẩn chứa nhiều loại mỏ quặng như vàng, bạc, châu ngọc, đồng đỏ, kẽm, nikel…, những thứ kim loại quý không chỉ đem lại sự thịnh vượng trực tiếp cho các thế lực nắm quyền khai thác mà còn giúp họ phân bổ quyền lực tốt hơn thông qua các hoạt động quản lý, độc quyền thương mại, đánh thuế. 


Địa thế tự nhiên của cả vùng đất đã đem lại cho nó một chỗ đứng, một vị trí mang tính chiến lược với các vương triều trong suốt chiều dài lịch sử.

Một nguồn lợi khác hiển thị ngay trên bề mặt vùng đất là sự đầy rẫy của các loại sản vật quý hiếm như sừng tê, ngà voi, sáp ong, trầm hương, nhựa cánh kiến, trà, quế, thảo quả…, và thậm chí là thuốc phiện. Hấp lực từ những phẩm vật đó khiến các thế lực đường đường chính chính cấp trung ương như triều đình, quan lại, chính quyền bảo hộ, các thế lực phìa tạo ở địa phương đến các thế lực nhòm ngó từ bên ngoài như các cánh quân xâm lược, các đội đánh thuê nhũng nhiễu vùng biên giới… đều không thể không đặt quyền lợi khai thác trong các nước đi của mình. Philippe Le Failler lưu ý một chi tiết, vào năm 1946, “theo hiệp định Pháp – Việt, Trung Quốc phải rút quân trong vòng 15 ngày, kể từ ngày 13/3/1946 nhưng trên thực tế việc này kéo dài đến giữa tháng 5”. Một trong những nguyên nhân là bởi “ở Điện Biên và Lào, quãng tháng 2 tháng 3, quân Trung Quốc không chịu rút trước khi vụ thuốc phiện được thu hoạch”. 

Nhưng sức hấp dẫn của sản vật và mỏ quặng không phải là yếu tố duy nhất để vùng rừng núi Tây Bắc và dòng sông đầy thác ghềnh trở thành một sa bàn nhức nhối buộc phải chiếm giữ. Địa thế tự nhiên của cả vùng đất đã đem lại cho nó một chỗ đứng, một vị trí mang tính chiến lược với các vương triều trong suốt chiều dài lịch sử. Dưới con mắt bao quát của những thế lực trong và ngoài vùng, trước hết tầm quan trọng của vùng phên dậu này là “sông Đà và phụ lưu của nó là tuyến đường thủy duy nhất có thể di chuyển lên Trung Hoa láng giềng. Lợi ích của xứ Lai đích xác là vị trí giao điểm của những con đường đi tới Trung Hoa và Việt Nam”. Mặt khác, Tây Bắc còn giáp Lào mà “điểm mút của lưu vực sát biên giới Lào là cao nguyên Điện Biên Phủ hay còn gọi là Mường Theng trong tiếng Thái,… cho phép tiếp cận Việt Nam bằng sông Mã đổ ra bờ biển Thanh Hóa hoặc sông Đà nối với sông Hồng”. 

Một lần nữa, các con sông lớn nhỏ nắm giữ yết hầu Tây Bắc và vùng phụ cận. “Nằm trên đường chia cách hai con sông, nó còn thông với lưu vực Mekong và Lào bằng dòng Nậm Um…, từ Điện Biên Phủ muốn đi Lai Châu phải hướng về phía Bắc và nếu tiếp tục sẽ tới Trung Quốc”. Rút cục, theo đánh giá của Philippe Le Failler, “đặc điểm này biến Điện Biên Phủ thành điểm tiếp xúc tự nhiên hiếm hoi giữa Lào và miền Bắc Việt Nam và xa hơn là tỉnh Vân Nam, Trung Quốc… Vai trò quyết định của Điện Biên Phủ nhắc nhở chúng ta rằng, vị trí bản lề giữa Việt Nam và Lào luôn là chiến trường hoặc trung tâm trao đổi”. 

Cuốn sách “Sông Đà: Lịch sử một vùng biên cảnh Việt Nam” của nhà sử học Philippe Le Failler, Thanh Thư dịch.

Rút cục, cái bối cảnh địa chính trị phức tạp, và không phải không hấp dẫn, đã trở thành sân khấu phô diễn cho rất nhiều vai chính phụ của lịch sử, trong đó có không ít người mà giờ đây có thể ít được nhắc đến nhưng lại là chứng nhân của một thời binh biến xáo trộn, tan đàn xẻ nghé và đổi thay chóng mặt. 

Những nhân vật quen mà lạ 

Lịch sử đã cho thấy thời thái bình thịnh trị, mưa thuận gió hòa là mảnh đất màu mỡ để ươm trồng và xây đắp các thiết chế lớn lao cũng như các mối quan hệ bền vững. Trong khi đó, nơi liên tục xáo trộn và biến đổi không ngừng thường tạo ra những cơ hội mới, kích hoạt các năng lực thích ứng mới nhưng lại nhào nặn ra các đột biến lì lợm nằm ngoài sức tưởng tượng. Cái dòng “Đà giang độc bắc lưu” (Nguyễn Quang Bích) mà chúng ta đã biết kích thích các nhân vật có máu phiêu lưu, những tay chọc trời khuấy nước và hơn nữa, cả những kẻ cơ hội, lật lọng và hiểm ác.

Để tồn tại ở vùng biên viễn, nơi các dòng chảy quyền lực và dòng chảy di cư xuyên biên giới đan chéo, cộng hưởng rồi phân rã, cần có phẩm chất riêng biệt. Nó đã xuất hiện ở đội quân di cư mà một trong số đó là Đèo Văn Trì, “cái tên khét tiếng (đến nỗi trở thành điểm đặc trưng), Trì nói về bản thân, về những gì đã làm, về người cha, về các mối quan hệ, về những cuộc chiến, về ảnh hưởng của ông ta, giá trị của ông ta và nhất là với một sự tự hào hiếm có” – ghi chép của người Pháp về Đèo Văn Trì, lãnh chúa người Thái trắng lai Trung Quốc lập nên quyền uy thị tộc Đèo. 

Bước chân di cư đã đưa ông của Đèo Văn Trì, một thương gia người Hoa họ Lưu tới xứ Thái Mường Lai và nhanh nhạy sắp đặt một cuộc hôn nhân chiến lược giữa con trai mình với con gái một lý trưởng người Thái trắng. Ở đây, người ta thấy chiêu thức hôn nhân làm hoán cải vận mệnh đã được tận dụng một cách triệt để, cộng thêm bạc vàng đút lót để đưa con trai người họ Lưu này trở thành người mang họ Đèo (Đèo Văn Seng), cái họ “phổ biến ở vùng thượng du sông Đà và từ rất lâu đã là họ của các thổ tù”, và chân lý trưởng. Sự kế thừa này đã mở ra một con đường hoạn lộ đầy rẫy những điểm đáng ngờ nhưng vô vàn mối lợi cho gia tộc mới này mà một trong những đỉnh cao quyền lực là Đèo Văn Trì, con trai Đèo Văn Seng.

Là một kẻ khôn ngoan và thiện chiến, Đèo Văn Trì đã sớm tham gia vào các cuộc chiến xuyên biên giới, tự thiết lập các mối quan hệ với những quyền lực như Lưu Vĩnh Phúc, thủ lĩnh đội quân Cờ Đen, có gốc gác là dư đảng Thái bình Thiên quốc (Trung Quốc) và phát triển thành một đội quân đánh thuê. Nhờ đó, Đèo Văn Trì tuổi ngoài đôi mươi đã có chiến thắng trước quân Cờ Vàng, một nhóm thổ phỉ cũng là dư đảng của Thái bình Thiên quốc. 

Nếp sống ở vùng biên viễn này vào những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 là gì nếu không phải là những cuộc xung đột và chiến tranh liên miên. Dẫu nó không đem lại sự phát triển bền vững nào nhưng lại tạo đà cho Đèo Văn Trì và thị tộc họ Đèo của mình cơ hội nắm chắc quyền lực ở xứ Lai, thậm chí từng cùng với quân Cờ Đen đối đầu với người Pháp nhưng rút cục, bằng sự thính nhạy, ông ta đã xoay ngược thế cờ để củng cố quyền lực vững chắc hơn. “Rất khôn khéo, Đèo Văn Trì biết cách tạo dựng lá chắn cho mình và quả thực đó là một tài năng không thể nghi ngờ khi ông liên tiếp thành công trong việc đổi từ lá chắn này sang lá chắn khác nhưng không bao giờ phản bội bất cứ ai”, Philippe Le Failler dường như thích thú trước việc lật lại một nhân vật đa diện như Đèo Văn Trì. 


Những thuộc tính bẩm sinh và được trui rèn trong một cuộc sống mà cái sống và cái chết lúc nào cũng liền kề, Đèo Văn Trì đã tạo dựng được cho mình một uy danh, một đế chế vùng cao.

Dưới con mắt của Philippe Le Failler, “Trì, gã người lai xứ Lai, bằng ngoại hình tròn trịa bệ vệ, sự hoạt bát và cách cư xử của một chúa đất khiến người ta có cảm giác ớn lạnh toát ra từ vẻ hiền từ và sắc sảo nhạy bén…”. Những thuộc tính bẩm sinh và được trui rèn trong một cuộc sống mà cái sống và cái chết lúc nào cũng liền kề, Đèo Văn Trì đã tạo dựng được cho mình một uy danh, một đế chế vùng cao.

Nếu chỉ dừng ở đây thì Đèo Văn Trì vẫn còn được khoác một tấm áo choàng lãng mạn, một vị thủ lĩnh ngoan cường biết lèo lái con thuyền gia tộc vượt sóng cả. “Đằng sau mọi tài sản lớn đều là tội ác”, câu nói của đại văn hào Pháp Honoré de Balzac dường như dành riêng cho trường hợp của Đèo Văn Trì. Việc củng cố quyền lực bằng tiền bạc ở vùng Tây Bắc, không gì hơn là nắm quyền kiểm soát dòng chảy thuốc phiện, thứ hàng hóa béo bở sinh lời bậc nhất, hơn cả trà và các phẩm vật khác. Vậy là khi “những luật lệ tế nhị không được áp dụng ở miền sơn cước và người ta giết chóc không chút động lòng”, một Đèo Văn Trì thừa đủ cáo già và lạnh lùng tàn bạo đã dựa vào vị thế mà người Pháp đem lại để mở rộng và vận hành mạng lưới buôn lậu thuốc phiện của thị tộc mình, từ Vân Nam tới Tây Bắc, từ vùng cao xuống miền xuôi…  

Có thể nói thêm rằng, Đèo Văn Trì có được sự thành công này là nhờ sự hậu thuẫn của người Pháp và một trong số đó là một nhân vật ưa phiêu lưu, một nhà thám hiểm và nhà ngoại giao, Auguste Pavie. Từ một nhân viên điện báo, bằng tài năng không thể chối cãi và sự mềm dẻo, linh hoạt trong thích ứng với những đổi thay, Auguste Pavie đã giúp Pháp hất Xiêm khỏi Lào, nắm quyền kiểm soát tại đây để rồi liên tiếp được thăng tiến txừ phó công sứ Pháp tại Luang Prabang, Thống đốc và Đại sứ Toàn quyền Pháp tại Lào. Và khi tiếp tục thực hiện sứ mệnh ở vùng biên viễn này, trong vai trò kép của nhà khoa học và ngoại giao, Auguste Pavie đã gặp Đèo Văn Trì và bắt đầu một tình bạn bền chặt với “sự lạc quan vô tận gần như ngây thơ” mà các thư từ trao đổi thường được Đèo Văn Trì bắt đầu bằng “cha thân yêu”, “cha mến” hoặc con trai của Đèo Văn Trì bắt đầu bằng “người bảo vệ kính yêu của chúng tôi”. Không thể không thấy rằng, một khía cạnh của tình bạn này là để thiết lập vững chắc hơn quyền lực của người Pháp ở Tây Bắc, khi đã “nhận thấy ở vùng biên một thế giới khác biệt, nơi không một hệ thống hành chính tập quyền nào có thể tồn tại. Người ta mau chóng hiểu rằng, cũng như ở nơi khác, không nên bãi bỏ các cấu trúc chính trị và xã hội địa phương mà phải sử dụng nó làm nền tảng cho chính quyền mới”. 


Trong cuộc đối thoại gần trăm năm với sông Đà, hậu thế dần biết thêm về bức tranh còn khuyết thiếu, không chỉ gồm những nhân vật, những dòng chảy quyền lực mà còn cả biết bao đổi thay về khung quản trị xã hội, hay nói cách khác là các cải cách hành chính, mà người Pháp từng áp đặt lên vùng đất này.

Tuy nhiên, sự lấp lánh của một thứ trang sức giả mạo xi mạ đôi khi không thể mãi đánh lừa. Dẫu Đèo Văn Trì ứng xử khôn khéo và biết dựa vào các thế lực quan trọng nhưng người Pháp không hẳn bị mắc lừa. Và một người trong số đó đã thừa nhận, “hắn là một công cụ sai lầm mà chúng ta có trong tay, hay nói đúng hơn chúng ta mới là công cụ trong tay hắn”. Một thế kỷ sau, một người Pháp khác, Philippe Le Failler, đã thoát khỏi cái mớ bòng bong đó để rồi đưa ra lời nhận xét có phần trung tính “Về khả năng chiến thắng nghịch cảnh, chúng ta hãy lưu ý rằng Đèo Văn Trì vượt trội hơn người khác, ông ta có biệt tài thoát thân khỏi những tình huống bất ngờ để tìm đường sống bằng cách dùng thủ đoạn hòng dàn dựng một sự bình thường không hề bình thường… Riêng chỉ ông ta mới cân nhắc được rủi ro và khả năng bảo vệ được kết hợp với một sự am hiểu thực địa hoàn hảo”. 

Những tình tiết về Đèo Văn Trì cũng như tình bạn gắn kết với Auguste Pavie được nhắc đến ở khắp đây đó trong “Sông Đà: Lịch sử một vùng biên cảnh Việt Nam”. Họ trở thành hai nhân vật được nhắc đến nhiều nhất trong cuốn sách này. Đây cũng là một sự bổ khuyết vào danh sách các cá nhân đã dự phần vào lịch sử vùng Tây Bắc ở những góc độ khác nhau, bởi dòng lịch sử chính thường chỉ đề cập đến những sự kiện và những cái tên ở tầm lớn lao, khái quát nên không có chỗ cho những con người bằng xương bằng thịt. Quá khứ dần được phát lộ và dày dặn thêm bằng những nghiên cứu như thế.  

Điểm xuyết cho toàn bộ câu chuyện này là cái thử thách của bối cảnh “rừng thiêng nước độc”, nơi “số lượng người chết vì sốt rét vượt quá số binh sĩ hy sinh trong chiến trận. Đến mức mà nếu sống ba năm ở miền Thượng thì một người có thể bị quy cho là đã chết, theo quan điểm thống kê”, “bờ trái sông Đà bị bỏ hoang, với khí hậu độc hại, nhiệt độ dao động từ 6oC vào mùa đông và 43oC vào mùa hè, nó là môi trường cho chứng suy nhược thần kinh phát triển”. Tất cả cho thấy, không có điều gì đó bình thường êm đẹp diễn ra ở đây, cái đỉnh cao quyền lực rồi sẽ đến ngày vụn vỡ tan nát như thị tộc họ Đèo mà biểu tượng quyền uy một thời, dinh thự Đèo Văn Long nay đã thành phế tích và một phần của nó đã vĩnh viễn nằm dưới lòng hồ thủy điện Sơn La từ hơn một thập niên trước…

***

Nếu lịch sử là cuộc đối thoại không ngừng với quá khứ, như nhận định của giáo sư sử học Phan Huy Lê, thì trong cuộc đối thoại gần trăm năm với sông Đà, hậu thế đã dần biết thêm về bức tranh còn khuyết thiếu, không chỉ gồm những nhân vật, những dòng chảy quyền lực mà còn cả biết bao đổi thay về khung quản trị xã hội, hay nói cách khác là các cải cách hành chính, mà người Pháp từng áp đặt lên vùng đất này. 

Và nếu có gì cần nói thêm về “Sông Đà: Lịch sử một vùng biên cảnh Việt Nam”, một bản dịch khó phần xuất sắc hơn của dịch giả Thanh Thư, thì đó là cái chất văn chương phảng phất hài hước đã làm tăng thêm phần cuốn hút cho một cuốn sách được dựng lên từ những hồ sơ lưu trữ và nỗ lực hệ thống, xâu chuỗi sự kiện một cách nhẫn nại từ các ghi chép lịch sử. □

———

*Cảm ơn GS. TS Nguyễn Văn Chính (Khoa Nhân học và Tôn giáo, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN) đã giới thiệu và chia sẻ góc nhìn của mình về cuốn sách này.

Bài đăng Tia Sáng số 16/2025

Tác giả

(Visited 16 times, 16 visits today)