Sức ép khí hậu và sự sụp đổ của các nền văn minh cổ đại
Trong số những nền văn minh tồn tại trong lịch sử, đã có bao nhiêu nền văn minh đã trỗi dậy rồi suy tàn vì biến đổi khí hậu?

Sự trỗi dậy và suy tàn
Khi chúng ta nghĩ về sự phá hủy môi trường hiện tại, chúng ta hình dung ngay ra mỏ dầu, nhà máy điện than hoặc các hòn đảo nhựa. Nhưng trước khi xuất hiện ngành công nghiệp, các xã hội cổ đại đã thúc đẩy hệ sinh thái đến bên bờ diệt vong.
Khí hậu Trái đất là một chu trình biến đổi gần như liên tục. Có tới bảy thời kỳ Băng hà với đặc điểm là sự mở rộng rồi co cụm của các sông bằng cách đây khoảng 650.000 năm. Thời kỳ băng hà lớn cuối cùng đã kết thúc gần 11.000 năm trước, dẫn đến kỷ nguyên khí hậu hiện đại của chúng ta, Holocene. Kể từ đó, khí hậu đã trở nên bền vững hơn, dẫu cũng có một thời kỳ Băng hà nhỏ diễn ra vào giữa năm 1200 và 1850 sau Công nguyên.
Nhưng có nhiều thứ dẫn đến biến đổi khí hậu hơn là sự lan tỏa của sông băng, nhiều nền văn minh từng rất thịnh trị đã bị phá hủy bởi tác động của những điều kiện biến đổi khí hậu ở quy mô địa phương.
Có thể thấy điều đó trong The Great Warming: Climate Change and the Rise and Fall of Civilizations (Thời kỳ ấm lên vĩ đại: Biến đổi khí hậu và sự thăng trầm của các nền văn minh). Cuốn sách thứ 4 trên thế giới về biến đổi khí hậu của giáo sư nhân học Brian Fagan, trường ĐH California ở Santa Barbara tập trung vào Thời kỳ ấm lên Trung cổ, dựa trên một khảo sát toàn cầu về sự trỗi dậy và sụp đổ của các nền văn minh từ thế kỷ thứ 10 đến 15, khi hạn hán không ngừng được mở rộng và kích hoạt những thay đổi trong chu trình bầu khí quyển. Fagan đã lấy luận điểm xuất phát của cuốn sách từ góc nhìn của Hubert Horace Lamb, nhà khí tượng học sống vào đầu thế kỷ đã coi biến đổi khí hậu như một chủ đề nghiên cứu có tầm ảnh hưởng đến đời sống xã hội.
Thành Troy, một biểu tượng của thời đại Đồ Đồng sớm và cũng là một câu chuyện về cái bóng phủ của chi phí sinh thái lên một nền kinh tế phát triển rực rỡ.
Phạm vi đề cập trong cuốn sách của Fagan đã vượt ra khỏi biên giới châu Âu, tới nhiều nơi chốn như Angkor Wat ở Campuchia, Chaco Canyon ở New Mexico, các thành phố của người Maya, những đoàn quân Mông Cổ, những nhà hàng hải Polynesia đầu tiên… để rồi chỉ ra những trải nghiệm môi trường cực đoan đã làm thúc đẩy sự tan rã của những nền văn minh này.
Nền văn minh Maya ở Trung Mỹ cổ đại tồn tại vào khoảng 3.000 năm trước. Đế chế của họ đã vươn khắp vịnh Yucatán và nơi mà ngày nay là Guatemala, Belize, một phần của Mexico, và Tây Honduras, El Salvador. Nông nghiệp là nền tảng của nền văn minh Maya, với những thành phố vô cùng rộng lớn được xây dựng khi dân số tăng trưởng. Tôn giáo là một phần quan trọng của đời sống Maya; các lễ hiến tế – bao gồm cả hiến tế người – là một nghi lễ được tiến hành đều đặn nhằm xoa dịu cơn giận dữ của các vị thần và giữ cho đất đai màu mỡ.
Tuy nhiên vào khoảng năm 900 sau công nguyên, nền văn minh Maya bắt đầu có dấu hiệu bị đe dọa. Quá tải dân số đặt sức ép lớn lên nguồn lực tự nhiên. Sự cạnh tranh nguồn tài nguyên đặt người Maya vào những bạo lực giao tranh với các quốc gia láng giềng. Một thời kỳ hạn hán kéo dài đã vung lưỡi hái chết chóc, phá hủy mùa màng và cắt đứt các nguồn cung nước.
Họ không phải là nền văn minh cổ đại duy nhất bị biến đổi khí hậu bắt kịp.
Hơn 4.000 năm trước ở Lưỡng Hà – vùng đất nay là Iraq, Đông Bắc Syria và Đông Bắc Thổ Nhĩ Kỳ – đế chế Akkadia là một siêu cường, cho đến khi một trận hạn hán dài 300 năm đã đưa tất cả vào tro bụi. Đó là một phần của mẫu hình của các điều kiện biến đổi khí hậu ở Trung Đông khoảng 2.200 năm trước công nguyên đã phá vỡ sự sống nơi này và kết thúc sự trỗi dậy của đế chế mới nổi.

Khi ảnh hưởng của hạn hán bắt đầu rõ rệt, dân chúng rời khỏi vùng đất khắc nghiệt để di cư tới các vùng đất màu mỡ hơn. Các sự kiện di cư quy mô lớn, tuy nhiên, làm tăng áp lực lên các nguồn tài nguyên còn lại, dẫn đến nhiều vấn đề hơn, ví dụ như ảnh hưởng đến sự cân bằng quyền lực trong xã hội.
Đền tháp Angkor Wat là lời nhắc nhở về năng lực kỳ diệu của các nền văn minh đã mất – đế chế Khmer ở Đông Nam Á từng thịnh vượng vào năm 802 và 1431 sau Công nguyên. Nó đã bị hủy diệt bởi hạn hán và xen kẽ với lượng mưa khủng khiếp trong mùa mưa trên cái nền biến đổi khí hậu.
Ngay cả những khu định cư của người Viking ở Greenland, phía Bắc Đại Tây Dương, cũng không thoát khỏi biến đổi khí hậu. Khoảng 5.000 khu định cư trên hòn đảo quê hương của họ tồn tại trong khoảng 500 năm. Nhưng cuộc sống của họ đã đổ vỡ vì biến đổi khí hậu. Nhiệt độ hạ thấp làm giảm đi năng suất của các trang trại và khiến cho khó nuôi gia súc. Họ thích ứng bằng thay đổi chế độ ăn, hướng ra biển tìm nguồn thức ăn mới nhưng sự sống ở Greenland đã trở nên khó mà cầm cự được lâu, dẫn đến việc từ bỏ định cư tại hòn đảo này.
Những màn xuyên không trở lại với quá khứ cổ đại đem lại cho chúng ta nhiều thông tin hữu ích cho xã hội hôm nay. Đó là lý do mà trong vài năm trở lại đây có không ít các dự án lớn được nhiều trung tâm nghiên cứu thực hiện để tìm hiểu về những trải nghiệm và giải pháp mà các xã hội cổ đại đã ứng phó trước sự khắc nghiệt của khí hậu.
Bài học từ thành Troy
Thành Troy cho chúng ta một góc nhìn khác. Có một nghịch lý tồn tại, đó là thi thoảng những hạt giống của sự suy sụp lại nảy mầm từ lớp đất thịnh vượng. Bên dưới những tường thành sáng chói của thành Troy, Trái đất đã lặng lẽ nứt ra dưới sức nặng của những tham vọng.
Thành Troy, một biểu tượng của thời đại Đồ Đồng sớm và cũng là một câu chuyện về cái bóng phủ của chi phí sinh thái lên một nền kinh tế phát triển rực rỡ. Nó không thuần túy là câu chuyện về sự đổi mới và thành công của một cổ thành nằm ở khu vực mà nay là Hisarlik, Thổ Nhĩ Kỳ mà còn là lời cảnh báo về khai thác quá mức và chi phí ẩn của sự tăng trưởng không kiểm soát.
Troy chứng tỏ rằng không xã hội nào miễn nhiễm với những hệ quả của sự khai thác sinh thái quá mức
Vào giữa năm 2500 và 2300 trước Công nguyên, Troy nổi lên như một trung tâm quyền lực ở Tây Bắc Anatolia, hàng thế kỷ trước khi Iliad của Homer đưa nó vào huyền thoại. Ở thời kỳ đỉnh cao thịnh trị, thành phố này được ước tính có một vạn dân, một con số ấn tượng của thời kỳ đó.
Thông qua những đợt khai quật trong khuôn khổ Dự án thành Troy của ĐH Tübingen, các nhà khoa học đã bóc tách được những lựa chọn có chủ đích trong việc sản xuất, quy hoạch và tổ chức đã chuyển đổi một ngôi làng khiêm tốn thời kỳ Đồ Đồng thành một cộng đồng phát triển rực rỡ với những vết tích đô thị sơ khai. Những tòa nhà đá đồ sộ, những đường phố có hàng lối và những khu định cư riêng biệt của Troy đã phản chiếu một xã hội đang chuyển đổi.
Tại tâm điểm của sự chuyển đổi này là sự trỗi dậy của sản xuất quy mô lớn. Dựa trên những mô hình Lưỡng Hà, bàn xoay gốm đã làm cách mạng hóa nghề làm gốm của Troy, cho phép tạo ra những sản phẩm nhanh hơn, đồng nhất nhiều hơn và ở quy mô lớn hơn. Các sản phẩm gốm từ bàn xoay nhanh chóng được yêu thích, với đặc trưng là những rãnh sâu và những lớp hoàn thiện đơn giản, ưu tiên tính hiệu quả hơn tính nghệ thuật.
Khi sản xuất gia tăng, nó cần một lực lượng lao động có kỹ năng và có tính tổ chức hơn. Nghề gốm chuyển từ gia đình tới các xưởng và người lao động trở nên có kỹ năng và chuyên biệt hơn. Thương mại bùng nổ, vươn khỏi vùng Troad, vùng đất bao gồm thành Troy, vượt khỏi phạm vi địa phương của khu định cư này.
Để kiểm soát sự phức tạp ngày một tăng đó, người ta bắt đầu có tiêu chuẩn hóa về cân nặng và các con dấu quản lý – các công cụ của việc điều phối và kiểm soát trong một thế giới ngày một phát triển theo hướng thương mại hóa.
Sự thịnh vượng của Troy được xây dựng trên sự khai thác không ngơi nghỉ. Những tòa nhà đồ sộ cần hàng tấn đá vôi từ các mỏ đá gần đó. Đất xét được đào bới từ những bờ sông từng rất màu mỡ để chất vào các lò nung và làm gạch. Những khu rừng bị đốn trụi để lấy gỗ và củi đun – thứ máu nuôi sống ngành công nghiệp gốm đang bùng nổ, thiêu đốt cả ngày đêm.
Nông nghiệp cũng trải qua quá trình cày cấy mãnh liệt. Những thế hệ sớm hơn đã từng khai thác mùa vụ rồi để đồng ruộng nghỉ ngơi. Những người nông dân thành Troy, ngược lại, theo đuổi việc tối đa mùa vụ thông qua quá trình nuôi trồng liên tục. Emmer và einkorn, những giống lúa mì cổ đại phù hợp với đất nghèo nhưng năng suất và lượng dưỡng chất thấp, chiếm ưu thế. Vừa khó lại vừa dễ lưu trữ mùa vụ từ những giống này nhưng nhìn chung, dưỡng chất đều có thể bị rút cạn.
Vì các trang trại được mở rộng trên những sườn dốc bậc thang, xói mòn đã xảy ra. Những ngọn đồi trước được rừng bao phủ, nay trở nên trơ trụi, như các bằng chứng khảo cổ học đã xác nhận.
Việc nuôi gia súc đã làm tăng thêm sức ép. Các loài gia súc như cừu và dê có xu hướng được chăn thả ở các đồng cỏ cao nguyên, xé nát thảm thực vật và làm nén chặt đất đai. Kết quả là làm giảm trữ lượng nước, co sụp lớp đất phía trên và suy giảm đa dạng thực vật. Cuối cùng, sự cân bằng sinh thái đã phải chịu đựng sự thịnh vượng của Troy.
Cho đến khoảng năm 2300 trước công nguyên, hệ thống này đã bắt đầu đứt gãy. Một vụ cháy lớn đã tàn phá thành Troy – có lẽ được sự nổi loạn hoặc giao tranh kích hoạt. Các công trình đồ sộ đã bị cấm xây dựng, thay thế bằng những căn nhà nhỏ hơn và những trang trại khiêm tốn. Trung tâm quyền lực đã bắt đầu bị lung lay.
Sự suy sụp này có thể đã được điều hướng bằng sự kết hợp của nhiều nhân tố: căng thẳng chính trị, những mối đe dọa từ bên ngoài và bất ổn xã hội. Nhưng không thể loại bỏ được sức ép môi trường. Đất bị cạn kiệt độ màu mỡ do phá rừng và xói mòn có thể dẫn đến tình trạng thiếu hụt nước, thiếu hụt tài nguyên và có thể là cả nạn đói. Mỗi nhân tố lại làm xói mòn thêm nền tảng ổn định của Troy.
Bị dồn đến chân tường sự thích ứng bắt đầu được ưu tiên hơn cả tham vọng làm giàu. Nông dân đa dạng hóa mùa vụ, chuyển từ độc canh các giống năng suất cao sang các chiến lược trồng trọt đa dạng và tăng cường sức chống chịu hơn. Rủi ro đã được xua tan, đất đai được phục hồi và các cộng đồng lại trở nên bền vững.
Troy không biến mất – nó thích ứng và tìm được một cân bằng mới cho thiên niên kỷ khác. Việc ở trong cái bóng của một cuộc khủng hoảng đã giúp nó được tái tạo.
Những bài học từ thành Troy là gì? Câu chuyện thành Troy còn hơn một tò mò khảo cổ học – nó là một tấm gương. Giống như nhiều xã hội trong quá khứ và hiện tại, tham vọng kinh tế của nó đã tiến nhanh hơn giới hạn sinh thái. Cái tín hiệu cảnh báo là: suy giảm mùa vụ, mất mát những cánh rừng, xói mòn đồi núi. Nhưng nó cũng minh chứng rằng, cái tham vọng tăng trưởng vĩnh cửu quá hấp dẫn để cưỡng lại.
Những thế giới song song với thế giới hiện tại đó thật khắc nghiệt. Cạn kiệt các nguồn tài nguyên, các khoản lãi ngắn hạn và việc xao nhãng vấn đề môi trường vẫn còn là đặc điểm chủ yếu của nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Các công nghệ có thể đã tiến hóa – tư duy thì lại không. Chúng ta tiêu dùng, loại bỏ, mở rộng và lặp lại. Ví dụ, như thời đại Đồ Đồng, vùng đất xung quanh thành Troy tiếp tục được cày cấy. Ngày nay, có sự lấn át của các vùng trồng ngô, bông, cà chua quy mô lớn.
Nhưng Troy cũng đem lại một niềm hy vọng mỏng manh: sự thích ứng sau khi vượt quá giới hạn, sự chống chịu sau khi đứt gãy. Nó nhắc nhở chúng ta rằng sự bền vững không phải là một ý tưởng hiện đại – nó là một sự nhu cầu vượt thời gian.
***
Trong cuốn sách của mình, Fagan nhìn vào tương lai khí hậu và lo ngại về những gì ông thấy. Chương cuối của ông đưa ra một cảnh báo về thế giới mà những hệ quả của sự ấm lên toàn cầu – những đợt sóng nhiệt khủng khiếp mùa hè năm 2025 là một ví dụ – có thể sẽ hiển thị trong những đợt hạn hán khắc nghiệt và sự tổn thương chuỗi cung ứng lương thực; đặc biệt các nền văn minh sống dựa vào “thứ nước được cướp bóc” của những thế hệ sau và do đó dẫn đến “vay mượn thời gian”. Thích ứng hay là chết, thông điệp ấy được đưa ra, đi kèm với nguy cơ đổ vỡ không tránh khỏi: những người có nguồn lực tài chính dồi dào đủ sức xây dựng thứ công nghệ cho phép họ sống thoải mái ở những vùng xa xôi nhưng những người nghèo thì khó có thể có nhiều biện pháp thích ứng như vậy.
Troy chứng tỏ rằng không xã hội nào miễn nhiễm với những hệ quả của sự khai thác sinh thái quá mức. Những dấu hiệu cảnh báo của mất cân bằng sinh thái chưa bao giờ biến mất – chúng thường dễ dàng bị bỏ qua. Việc quan tâm hay lờ hẳn chúng đi phụ thuộc vào chính chúng ta.□
Anh Vũ tổng hợp
Nguồn:
Bài đăng Tia Sáng số 16/2025